Phạm Khắc Phara
Học viên cao học – Trường Đại học Cửu Long
PGS. TS. Nguyễn Hoàng Phương
Học viện Chính trị Khu vực II
Tóm tắt
Hệ sinh thái đầm Đông Hồ tại phường Hà Tiên, tỉnh An Giang là một trong những hệ sinh thái đầm phá ven biển điển hình của Việt Nam, mang tính liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố tự nhiên - xã hội và kinh tế. Trong bối cảnh đô thị hóa, biến đổi khí hậu và các tác động từ khai thác tài nguyên, hệ sinh thái khu vực này đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Nghiên cứu tập trung phân tích hiện trạng suy giảm chất lượng môi trường, đa dạng sinh học và rủi ro sinh kế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm bảo vệ và phục hồi đầm Đông Hồ theo hướng bền vững.
Từ khóa: Bảo tồn hệ sinh thái, đầm Đông Hồ, phát triển bền vững, cộng đồng địa phương đa dạng sinh học
Summary
The Dong Ho lagoon ecosystem in Ha Tien ward, An Giang province, is one of Viet Nam’s typical coastal lagoon ecosystems, characterized by close interconnections among natural, social, and economic factors. However, urbanization, climate change, and resource exploitation have increasingly posed serious risks of degradation to this ecosystem. The study examines the current decline in environmental quality, biodiversity loss, and livelihood risks, thereby proposing a system of solutions to protect and restore the Dong Ho lagoon towards sustainable development.
Keywords: Ecosystem conservation, Dong Ho lagoon, sustainable development, local community, biodiversity
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đầm Đông Hồ là vùng đầm phá nước lợ đặc trưng tại khu vực thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (cũ), và sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính năm 2025 thuộc khu vực phường Hà Tiên, tỉnh An Giang - đây là khu vực giáp ranh giữa nội địa và biển Tây Nam. Đầm Đông Hồ không chỉ là hệ sinh thái ngập nước có tính đa dạng sinh học cao, mà còn là không gian sinh kế truyền thống và cảnh quan văn hóa đặc sắc gắn bó mật thiết với cộng đồng cư dân bản địa. Tuy nhiên, những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, lấn chiếm vùng ngập nước để nuôi trồng thủy sản, phát triển đô thị hóa và biến đổi khí hậu đang gây tổn thương nặng nề đến tính ổn định của hệ sinh thái này. Áp lực từ các hoạt động sản xuất không được kiểm soát và quy hoạch đô thị thiếu tầm nhìn sinh thái đang làm suy giảm nhanh chóng diện tích mặt nước, rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản.
Trước thực trạng đó, vấn đề bảo tồn hệ sinh thái đầm Đông Hồ không chỉ là một yêu cầu môi trường, mà còn là yêu cầu kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo sinh kế cho cộng đồng cư dân, duy trì các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu và bảo vệ an toàn vùng đô thị ven biển. Do đó, cần thiết phải xây dựng một khung giải pháp đồng bộ, tích hợp giữa quản trị tài nguyên thiên nhiên, khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế cộng đồng, nhằm đạt được mục tiêu phục hồi và bảo tồn lâu dài hệ sinh thái đầm Đông Hồ.
THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI ĐẦM ĐÔNG HỒ
Hệ sinh thái Đầm Đông Hồ nằm tại phía Đông Nam Thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (cũ), nay thuộc phường Hà Tiên, tỉnh An Giang, là một đầm phá nước lợ với đặc trưng sinh thái đa dạng và cấu trúc không gian chuyển tiếp giữa sông, đầm và biển. Với diện tích mặt nước thay đổi theo mùa từ khoảng 1.200 ha đến hơn 1.400 ha, đầm có vai trò hết sức quan trọng trong điều tiết môi trường, nuôi dưỡng sinh vật biển và hỗ trợ sinh kế cho hơn 2.000 hộ dân sống ven đầm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đầm Đông Hồ đang đối mặt với sự suy thoái nhanh chóng về cấu trúc sinh thái, chất lượng môi trường và dịch vụ hệ sinh thái, gây ra nhiều hệ lụy cả về môi trường lẫn kinh tế - xã hội.
Suy giảm rừng ngập mặn và biến động sinh cảnh
Một trong những biểu hiện rõ rệt nhất của suy thoái hệ sinh thái là tình trạng mất rừng ngập mặn ven đầm. Theo báo cáo của UBND TP. Hà Tiên (2019), diện tích rừng ngập mặn tại vùng đầm đã giảm từ khoảng 320 ha năm 2005 xuống còn chưa đầy 190 ha vào năm 2018, mất hơn 40% trong vòng 13 năm. Sự mất mát này chủ yếu xuất phát từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang nuôi tôm công nghiệp, xây dựng hạ tầng du lịch và giao thông mà không có các biện pháp trồng bù hoặc đền bù sinh thái tương xứng. Hậu quả là sự thay đổi cấu trúc sinh cảnh ven đầm, làm mất đi vai trò chắn sóng, giữ bùn, lọc nước và tạo nơi sinh cư cho hàng loạt loài sinh vật. Sự suy giảm rừng ngập mặn cũng khiến quá trình xâm nhập mặn diễn ra sâu hơn vào nội địa, phá vỡ cân bằng mặn - ngọt trong đầm, đặc biệt vào mùa khô. Việc mất rừng còn làm tăng tốc độ xói lở bờ đầm tại các khu vực Phường Đông Hồ, Tô Châu, nơi có mật độ nhà dân ven bờ cao, đe dọa cả tài sản và sinh kế của người dân.
Suy thoái đa dạng sinh học và khai thác quá mức
Về mặt đa dạng sinh học, đầm Đông Hồ từng là môi trường sống của hơn 78 loài cá, 16 loài giáp xác, 13 loài nhuyễn thể và 5 loài thực vật ngập mặn chủ đạo, như: mắm trắng, bần chua, đước đôi... Tuy nhiên, theo báo cáo của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển (2022), hơn 60% loài cá bản địa có xu hướng suy giảm số lượng cá thể trong vòng một thập kỷ qua, đặc biệt là cá kèo, cá đối, cá ngựa và cá sơn. Đáng lo ngại là nhiều loài thủy sinh có giá trị kinh tế cao như: nghêu lụa, tôm sú, cua biển đã suy giảm sản lượng trên 50%-70%, thậm chí có nguy cơ tuyệt chủng cục bộ tại một số khu vực.
Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do khai thác quá mức và sử dụng phương pháp đánh bắt hủy diệt, như: dùng xung điện, chà điện, lưới mắt nhỏ, khai thác trái mùa sinh sản... Cộng đồng ngư dân quanh đầm phần lớn hành nghề tự do, không được quản lý theo mùa vụ hay chỉ tiêu sinh thái, trong khi chính quyền địa phương thiếu công cụ giám sát, thiếu nhân lực tuần tra và thiếu cơ chế khuyến khích chuyển đổi nghề bền vững.
Ô nhiễm nước và phú dưỡng
Chất lượng nước tại Đầm Đông Hồ có dấu hiệu suy giảm đáng kể trong những năm gần đây. Theo báo cáo quan trắc của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang (2021), nhiều thông số nước mặt tại các vị trí như cửa Giang Thành, cống Bến Nhứt, khu nuôi trồng Tô Châu đều vượt quy chuẩn cho phép. Cụ thể, BOD dao động 8,2-13,5 mg/L (vượt chuẩn A1 là 6 mg/L), COD từ 35-52 mg/L, hàm lượng Amoni (NH₄⁺) đạt tới 0,9 mg/L, gấp 3 lần giới hạn. Tình trạng phú dưỡng diễn ra cục bộ tại các khu vực nuôi trồng có mật độ ao dày, với sự xuất hiện tảo lam và tảo lục phát triển mạnh, gây hiện tượng “nước xanh”, thiếu oxy và hiện tượng chết thủy sinh hàng loạt vào mùa nắng nóng. Nguyên nhân của ô nhiễm nước bao gồm: nước thải sinh hoạt không qua xử lý từ các khu dân cư đông đúc đổ trực tiếp ra đầm, chất thải từ chợ cá, rác hữu cơ, túi nylon, phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật từ vùng canh tác thượng nguồn theo dòng chảy xuống đầm, đặc biệt vào mùa mưa.
GIẢI PHÁP BẢO TỒN HỆ SINH THÁI ĐẦM ĐÔNG HỒ
Trước những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về sinh thái và áp lực ngày càng lớn từ phát triển kinh tế - xã hội, việc bảo tồn hệ sinh thái đầm Đông Hồ không thể chỉ dừng lại ở những biện pháp kỹ thuật riêng lẻ, mà cần một chiến lược tổng thể với các giải pháp tích hợp, có sự điều phối liên ngành, đồng thời gắn với thực tiễn cộng đồng và các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Do đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp phù hợp với đặc điểm vùng đầm phá ven biển Tây Nam Bộ, có tham khảo kinh nghiệm thành công từ một số quốc gia Đông Nam Á nhằm bảo tồn hệ sinh thái đầm Đông Hồ như sau:
Giải pháp thể chế và quy hoạch tích hợp
Trọng tâm của giải pháp thể chế là thiết lập một mô hình quản lý tổng hợp đầm phá với sự tham gia đồng thời của chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn, cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Cần xây dựng quy chế điều phối vùng đầm Đông Hồ, trong đó xác định rõ vai trò, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan. Mô hình quản lý theo “Ban điều phối đầm phá” đã từng được triển khai hiệu quả tại hồ Chilika (Ấn Độ) và Laguna de Bay (Philippines), cho thấy vai trò của điều phối liên ngành trong quản lý tài nguyên liên kết.
Việc quy hoạch không gian sinh thái vùng đầm cũng là một giải pháp nền tảng. Cần phân chia khu vực đầm thành các vùng chức năng: vùng bảo tồn nghiêm ngặt (rừng ngập mặn, bãi triều), vùng phục hồi sinh thái (vùng bị suy thoái, cần tái tạo), vùng đệm (khu dân cư ven đầm, vùng chuyển tiếp) và vùng phát triển kinh tế sinh thái (nuôi trồng thủy sản thân thiện, du lịch cộng đồng). Ngoài ra, cần xây dựng khung pháp lý cho chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) và giấy chứng nhận sinh thái (Eco-certification), làm cơ sở để huy động nguồn lực tài chính từ cả khu vực công và tư.
Giải pháp kỹ thuật - công nghệ
Trọng tâm kỹ thuật cần hướng đến phục hồi cấu trúc sinh thái và tăng cường khả năng tự điều tiết của hệ thống đầm. Cụ thể, thực hiện các chương trình trồng lại rừng ngập mặn bằng các loài bản địa, như: đước đôi, mắm trắng và bần chua ở những vùng ven đầm đã bị xói lở. Nghiên cứu của FAO (2011) tại Thái Lan cho thấy, khi trồng rừng ngập mặn kết hợp với cải tạo dòng chảy tự nhiên và mương thoát nước, tỷ lệ sống đạt trên 80% và giúp giảm 40% bồi lắng trong vòng 5 năm. Tại đầm Đông Hồ, cần đồng thời phục hồi các mương tiêu, cống xả và luồng thủy triều nhằm khơi thông dòng chảy, cải thiện quá trình tự lọc của đầm.
Áp dụng hệ thống quan trắc môi trường thông minh, sử dụng cảm biến đo tự động các thông số như pH, độ mặn, BOD, COD, NH₄⁺ tại các cửa sông, cửa cống lớn, tích hợp bản đồ GIS để cập nhật dữ liệu theo thời gian thực. Hệ thống này giúp phát hiện sớm hiện tượng phú dưỡng, ô nhiễm cục bộ, phục vụ điều chỉnh thời vụ và xử lý kịp thời. Ngoài ra, các công trình lọc sinh học như hồ sinh thái nhỏ (constructed wetland) có thể xây dựng tại các điểm xả nước thải sinh hoạt tập trung, giúp giảm 60–80% ô nhiễm hữu cơ trước khi nước chảy ra đầm.
Về nuôi trồng thủy sản, cần khuyến khích mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp rừng - đầm, sử dụng giống bản địa, mật độ vừa phải, kiểm soát thức ăn và chất thải ao nuôi. Đồng thời, cấm triệt để các hình thức đánh bắt mang tính tận diệt (xung điện, thuốc trừ sâu), áp dụng mùa vụ khai thác theo lịch sinh sản của các loài.
Giải pháp cộng đồng và giáo dục môi trường
Bảo tồn bền vững chỉ có thể thành công khi người dân được tham gia thực chất vào quá trình ra quyết định và triển khai. Do đó, cần xây dựng các Tổ cộng đồng bảo vệ đầm có chức năng giám sát khai thác, thu gom rác thải, tham gia trồng rừng và phối hợp với chính quyền trong xử lý vi phạm. Giải pháp truyền thông và giáo dục cần đổi mới theo hướng truyền thông hành vi thay vì tuyên truyền đơn thuần. Có thể tổ chức các hội thi “Gia đình xanh ven đầm”, các chương trình du lịch học đường, hoặc lồng ghép giáo dục môi trường vào chương trình phổ thông tại Hà Tiên. Việc phát triển trung tâm giáo dục cộng đồng ven đầm (community education center) vừa giúp tuyên truyền kiến thức, vừa tạo không gian giao tiếp giữa người dân - chính quyền - nhà nghiên cứu.
Giải pháp kinh tế - tài chính bền vững
Cần thiết lập các cơ chế tài chính ổn định để duy trì công tác bảo tồn trong dài hạn. Đề xuất thành lập Quỹ bảo vệ đầm Đông Hồ từ 3 nguồn: ngân sách địa phương, đóng góp doanh nghiệp và một phần phí dịch vụ du lịch sinh thái. Quỹ này sẽ được sử dụng cho các hoạt động như: hỗ trợ người dân chuyển đổi sinh kế xanh, chi trả dịch vụ môi trường, và duy trì tổ cộng đồng giám sát.
Phát triển các sản phẩm nông - ngư nghiệp có chứng nhận sinh thái, như: tôm sinh thái, sò huyết sạch, cá kèo nuôi dưới tán rừng giúp nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và tăng thu nhập bền vững. Song song đó, cần xây dựng chuỗi du lịch sinh thái trách nhiệm, quy mô nhỏ, như: tour bắt cá truyền thống, chèo xuồng rừng ngập mặn, thưởng thức ẩm thực ven đầm, có sự điều tiết tải lượng khách, tránh phá vỡ cân bằng sinh thái.
Gắn kết mô hình quốc tế - nâng tầm quản trị
Cuối cùng, Hà Tiên cần tham gia các mạng lưới hợp tác quốc tế về bảo tồn đầm phá, như: Mạng lưới các khu Ramsar Đông Nam Á, Chương trình “Mangrove for the Future” do IUCN khởi xướng, hoặc Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF). Việc này giúp địa phương tiếp cận nguồn vốn quốc tế, trao đổi kinh nghiệm, tiếp thu công nghệ mới và học hỏi các mô hình thành công như mô hình đồng quản lý rạn san hô ở Cebu (Philippines), mô hình đầm phá - nông nghiệp tổng hợp tại Bali (Indonesia).
Tài liệu tham khảo:
1. Huỳnh Trung, Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thanh Hằng (2004). Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp bảo tồn hệ sinh thái vùng ngập nước phía Tây đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo khoa học, Đại học Cần Thơ.
2. Nguyễn Văn Thông (2015). Đánh giá tác động của khai thác thủy sản tới đa dạng sinh học vùng đầm phá Hà Tiên. Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 11(47), 52-56.
3. Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang (2020). Đánh giá hiện trạng hệ sinh thái và đề xuất giải pháp quản lý bền vững Đầm Đông Hồ, TP. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Báo cáo nghiên cứu, UBND tỉnh Kiên Giang.
4. Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang (2021). Báo cáo kết quả quan trắc môi trường nước mặt vùng đầm Đông Hồ. Sở TN&MT Kiên Giang.
5. UBND TP. Hà Tiên (2019). Báo cáo tổng hợp hiện trạng quản lý và sử dụng đất vùng ven đầm Đông Hồ. Phòng Tài nguyên và Môi trường TP. Hà Tiên.
6. Viện Tài nguyên và Môi trường Biển (2022). Báo cáo điều tra đa dạng sinh học và các thông số thủy sinh học tại vùng đầm phá Kiên Giang. Hải Phòng: Viện Tài nguyên - Môi trường Biển.
Ngày nhận bài: 22/7/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 19/8/2025; Ngày duyệt đăng: 29/8/2025 |