Tuổi 18 rưng rưng nghe chuyện yêu nước của người anh hùng 98 tuổi

81 năm là quãng thời gian 'nước Việt Nam mới' được khai sinh - ngày 2-9-1945 - cho tới hôm nay. Một cuộc trò chuyện giữa hai thế hệ tuổi 18 qua 81 năm, may thay chúng tôi vẫn còn có thể thực hiện, và hơn thế, còn tìm được một gạch nối gần gũi.
Nối những câu chuyện tuổi 18 qua 81 nămÔng Tư Cang  - Ảnh 1.

Gạch nối đồng môn mau chóng giúp thời niên thiếu của ông Tư Cang sống dậy, tình cảm giữa những người lần đầu gặp mặt mau chóng thắm thiết, và những câu chuyện đất nước như được thấm thêm máu thịt - Ảnh: PHẠM VŨ

Đó là cuộc trò chuyện giữa ông Tư Cang - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu - học sinh Trường Petrus Ký Sài Gòn xếp bút nghiên cầm gậy tầm vông lên đàng từ 81 năm trước và những học sinh Trường Lê Hồng Phong TP.HCM, Đại học Văn Lang hôm nay.

Các bạn trẻ đến thăm ông Tư Cang với lòng ái mộ những câu chuyện cụm tình báo H63 từng được nghe cùng biết bao câu hỏi: Sức mạnh nào để ông và những người thế hệ ông có thể vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy không phải trong khoảnh khắc mà là 30 năm kháng chiến?...

Petrus Ký, nơi khai mở lòng yêu nước

Ông Tư Cang cười: "Tôi cũng bắt đầu là học sinh Trường Petrus Ký như các em, mà không, không phải như các em. Trường Petrus Ký với tôi là gia đình, tôi học được lòng yêu nước”. Ông bắt đầu câu chuyện bằng những ký ức xót xa của tuổi thơ mình:

“Các em chắc không thể biết, không thể hiểu được hoàn cảnh thời ấy nơi nơi nghèo đói, lạc hậu. Mấy câu thơ của ông Tố Hữu không chỉ là thơ mà chính là sự thật “Thuở nô lệ, thân ta nước mất/ Cảnh cơ hàn, trời đất tối tăm/ Một đời đau suốt trăm năm/ Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao!/ Giặc cướp hết, non cao biển rộng/ Cướp cả tên nòi giống tổ tiên/ Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền/ Non sông một khúc ruột liền chia ba”.

Quê tôi Long Phước - Bà Rịa, nghèo thì thôi khỏi nói, lạc hậu cũng không thể tưởng. Không có cái gì để gọi là có khoa học. Mỗi lần tôi bệnh thì ông ngoại đi thắp nhang, má tay cầm siêu nước đi từ nhà trên xuống bếp, hễ tay chân quơ trúng cái gì thì lấy cái đó bỏ vào ấm nước, nấu lên làm thuốc. Nhớ lại, tôi không hiểu mình đã qua cơn bệnh bằng cách nào. Một đứa nhỏ em tôi không may mắn vậy, nó sốt, má đổ nước cháo, nó run run chút rồi chết…

Tôi học trường làng, học giỏi rồi được lên trường tỉnh, được học bổng hạng nhì của trường. Cô giáo lấy tiền học bổng nấu cơm cho ăn.

13 tuổi, học hết tiểu học thì trường tỉnh cũng hết lớp, muốn học tiếp phải lên Sài Gòn mà thi, trên ấy có một trường Tây (Chasseloup Laubat) và một - hai trường cho người bản xứ (Petrus Ký). Má tôi vét hết gia tài chỉ có 2 đồng bạc, thở dài bảo tôi ở nhà mà học làm ruộng. Tôi nào có dám nói gì, tiếp tục công việc thường ngày đi chăn bò.

Thời may có ông cậu, ông bảo: “Thằng bé học giỏi, ráng cho nó đi thi. Thi rồi nếu rớt thì nó lại về coi bò, làm ruộng cũng không buồn”.

Ông đi làng trên xóm dưới xin bà con góp được thêm 5 đồng, cộng với 2 đồng của má nữa là 7 đồng. Làng bên có gia đình khá giả, cũng chuẩn bị đưa con lên Sài Gòn thi Petrus Ký, ông cậu dẫn tôi sang đó gửi gắm. Thế là lần đầu tiên tôi được lên Sài Gòn. Cha, quả là thế giới khác, thành phố Sài Gòn lộng lẫy ngày ấy như là của người Pháp…”.

Nối những câu chuyện tuổi 18 qua 81 nămÔng Tư Cang  - Ảnh 2.

Những câu chuyện của hơn 80 năm trước vẫn còn khắc sâu trong ký ức ông Tư Cang - Ảnh: PHẠM VŨ

Câu chuyện vào nhịp hứng khởi hơn. Ông Tư Cang kể về kỳ thi gắt gao và khiêm hạ kết luận rằng ông may mắn “được ông bà độ” cho “trúng tủ” cả ba vòng thi viết luận, toán pháp, vấn đáp dẫn đến kết quả đậu hạng 7/450 thí sinh thi vào trường năm ấy.

Ông nói là trúng tủ nhưng người nghe đều biết không hẳn như vậy, vì đến hôm nay - đã 85, 86 năm qua rồi - mà ông vẫn nhắc vanh vách bằng tiếng Pháp từng câu hỏi, câu trả lời của buổi thi năm ấy. Thế là cậu bé Nguyễn Văn Tàu xứ Long Phước thành học sinh Petrus Ký, đậu cao, được học bổng nội trú toàn phần.

“Tôi đi học, hầu hết thầy cô giáo là người Pháp, thứ Hai nào cũng chào cờ, hát Quốc ca Pháp, đọc lại bài học “Nos ancêtres sont des Gaulois (Tổ tiên chúng ta là người Gô-loa)”. Tôi bắt đầu nhận thức được những điều không đúng, trái ngược với hiện thực.

Rồi những đàn anh của chúng tôi ở trường lập ra đoàn S.E.T trên danh nghĩa là một đoàn du lịch, thám hiểm của học sinh. Tôi hăng hái nhập đoàn, đi dã ngoại, sinh hoạt hướng đạo, tập hát đồng ca. Chính những bài ca của nhóm Hoàng Mai Lưu (Huỳnh Văn Tiểng - Mai Văn Bộ - Lưu Hữu Phước) đã giác ngộ tôi lòng yêu nước”.

Đứng lên đáp lời sông núi

Ông Tư Cang, 98 tuổi, nét mặt tươi rỡ như sống lại tuổi trẻ, hát say sưa trong nhịp vỗ tay hào hứng của các bạn đồng môn cách ông hơn 80 tuổi: “Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi/ Đồng lòng cùng đi, đi đi mở đường khai lối/ Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên/ Nào anh em Bắc Nam, cùng nhau ta kết đoàn…”, “Đây Bạch Đằng giang, sông hùng dũng của nòi giống tiên rồng/ Giống Lạc Hồng, giống anh hùng, Nam - Bắc - Trung…”.

Nhiệt huyết từ những lời ca đến hôm nay vẫn nồng cháy như mấy mươi năm trước. Chẳng vậy mà ngày ấy, càng theo chân các anh trong dàn đồng ca đoàn S.E.T, dự kiến học cho giỏi để làm thầy thông, thầy ký, thầy giáo trong cậu bé Tàu càng nhỏ lại, nhường chỗ cho những suy nghĩ sâu sắc hơn, ước mơ lớn lao hơn.

Những bài ca mở đường khai lối cho một đời cống hiến hơn 80 năm vẫn truyền lửa - Video: Phạm Vũ

Từ năm 1944, không khí chiến tranh bắt đầu lan đến những ngõ ngách Sài Gòn, Trường Petrus Ký bị quân Nhật chiếm làm trụ sở, học sinh phải di dời sang Trường Gia Long, rồi đến cuối năm thì phải sơ tán xuống tận Mỹ Tho.

Không có tiền trả trọ học, chàng thanh niên 17 tuổi Nguyễn Văn Tàu đành nghỉ học, về lại quê Long Phước, tham gia phong trào thanh niên tiền phong địa phương. Và đến một ngày tháng 8-1945, chưa tròn 18 tuổi, anh cầm cây gậy tầm vông, cùng đoàn người lên huyện giành chính quyền, và từ đó đêm đêm anh lại đi sinh hoạt để được nghe những bài giảng về tương lai nước Việt Nam độc lập.

“Tôi không được trực tiếp tham dự Lễ Độc lập ngày 2-9-1945 ở Hà Nội hay Sài Gòn, bản Tuyên ngôn độc lập hay bài nói ứng khẩu của ông Trần Văn Giàu tôi chỉ được đọc sau đó, nhưng lời thề “Độc lập hay là chết” trên quảng trường Công xã Paris ngày hôm ấy thì đã đến với tôi chính ngày hôm ấy, chính là lời thề của tôi, đi vào tim tôi và ở đó cho đến hôm nay. Làm trai thời loạn chỉ có một con đường vì nước”.

Ông đi cùng lời thề ấy 81 năm, qua cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, cuộc đấu tranh 20 năm chống Mỹ, hai lần vượt đường Trường Sơn, 10 năm ra vào Sài Gòn chỉ huy cụm tình báo H63, bao lần vào trận sinh mạng treo trên đầu sợi tóc…

Trên con đường cách mạng gian khổ ấy, ông còn gặp được nhiều bạn đồng môn, cùng lớp của mình: đại sứ Hoàng Anh Tuấn, bác sĩ Dương Quang Trung, đạo diễn Trần Hữu Phước, chuyên viên ủy ban quốc tế Trần Văn Thìn…

Tư Cang trên con đường “Coi như chết rồi”

Các bạn học sinh tuổi 18 hôm nay khó hình dung được lời thề sắt son dài 81 năm mà ông gìn giữ, lại càng không thể hình dung con đường gian khổ sinh tử khốc liệt dài 30 năm mà ông đã đi. 

Khi ông kể chuyện lời hứa đinh ninh của các thành viên H63: “Vào đội này là khắc lên ngực bốn chữ: Coi như chết rồi”, dẫu đã từng nghe nhưng hôm nay nhiều bạn vẫn bật thốt: “Tại sao?”. Ừ nhỉ, con đường lý tưởng cứu nước vẫn nên có đích đến là hòa bình, tự do, hạnh phúc để hy vọng, còn con đường “Coi như chết rồi” thì làm sao để thuyết phục người khác cùng đi?

Nối những câu chuyện tuổi 18 qua 81 nămÔng Tư Cang  - Ảnh 5.
Nối những câu chuyện tuổi 18 qua 81 nămÔng Tư Cang  - Ảnh 6.
Nối những câu chuyện tuổi 18 qua 81 nămÔng Tư Cang  - Ảnh 7.

"Coi như chết rồi" - lời dặn dò rất thật của ông Tư Cang với đội H63 xưa, và hôm nay ông Tư Cang một lần nữa giải thích và thuyết phục các bạn trẻ gen Alpha - Ảnh: PHẠM VŨ

Ông Tư cười: "Tôi xác định trước với lính trong đội mình như vậy, nghe như đùa nhưng chính là thật. Ai cũng phải hiểu: Lý tưởng cứu nước, nhiệm vụ cách mạng lớn hơn, quan trọng hơn sinh mạng của chính mình, nói như những người ở quê tôi khi xưa: "Chết bỏ, xu nhỏ mười mạng". 

Độc lập - Tự do - Thống nhất - Hòa bình - Hạnh phúc là mơ ước của toàn dân tộc, là con đường sẽ được đi tới từng bước một bằng những nhiệm vụ như nhiệm vụ của chúng tôi.

Trên con đường ấy, chúng tôi phải phấn đấu, phải nỗ lực, kể cả phải hy sinh, vì hạnh phúc mà chúng tôi đấu tranh giành lấy là của tất cả mọi người chứ không chỉ của riêng mình. Sự hy sinh có ý nghĩa cao cả mà thực tế, nên nó xứng đáng được lựa chọn".

Đội H63 của ông, 27 người đã hy sinh để bảo toàn bí mật đường dây. Ông kể thêm câu chuyện những đợt xuất quân của các đội biệt động thành, biết rằng đi sẽ không có về nhưng ai cũng xung phong, khăng khăng nhận nhiệm vụ ngay cả khi cấp trên chỉ định người ở lại. Ông kể về bản báo cáo phân tích chiến lược sau đợt 1 Mậu Thân, chính ông đã đề xuất "tiếp tục" dẫu biết cái giá của hy sinh sẽ không nhỏ.

Và ông kể chuyện mẹ mình.

Một lần sau Tết Mậu Thân 1968, mẹ ông bỗng tìm giao liên, đòi đưa vào thành tìm thăm ông một lần. Khi gặp được, bà khóc, kể đợt rồi một đội du kích địa phương bị vây trong hầm, kêu hàng. Không ai lên, đối phương bỏ lựu đạn xuống, chết hết 7 người, trong đó có con trai của bà - tức em trai ruột của ông Tư. Rồi bà nắm tay ông: “Thà nó chấp nhận hy sinh vậy, má đau nhưng vẫn chịu được, chứ nếu nó ra hàng thì sự nhục không chịu nổi. Bay nhớ nghen”.

Nay nhắc lại câu nói của mẹ, ông còn nghẹn nước mắt, rồi lại cười: “Má tới nói một câu còn nặng hơn mười câu của chính ủy. Mệnh lệnh “Coi như chết rồi” là đó chớ còn chi mà lo sợ”.

Con đường hôm nay

Các bạn trẻ đã hiểu!

Ở trường, các bạn đã được học, được đọc về ngày 2-9, đã thuộc cả bản Tuyên ngôn Độc lập, đã từng được nghe, được xem những tấm gương anh hùng trên sách, báo, truyền hình, nhưng nay được gặp ông Tư Cang bằng xương bằng thịt, được nghe ông kể chuyện bằng cả cuộc đời 98 năm là một trải nghiệm giá trị gấp nhiều lần bài học trong sách vở.

Ra về, bạn nào cũng luyến tiếc xin được một cơ hội trở lại nghe kể chuyện.

Nối những câu chuyện tuổi 18 qua 81 nămÔng Tư Cang  - Ảnh 8.

Con đường của các bạn trẻ hôm nay không còn "Coi như chết rồi" nhưng vẫn cần rất nhiều động lực "hạnh phúc chung, không phải của riêng mình" - Ảnh: PHẠM VŨ

Thiên Ân, Bảo Ngọc đến từ Trường ĐH Văn Lang tâm đắc: "Được gặp, được nghe ông, lịch sử với chúng em không còn xa vời trong sách vở mà chính thật là những con người đã dâng cho Tổ quốc tuổi trẻ thật, máu xương thật. Chúng em sẽ nhớ câu ông nhắc "Lịch sử cho anh dòng sữa tự hào/ Thời đại cho anh ánh sao trí tuệ/ Không gì quý hơn độc lập, tự do" để tiếp tục tìm hiểu lịch sử nước mình...".

Thái Tuấn, Khánh Hoàng (lớp 12 chuyên sử Trường Lê Hồng Phong) xúc động: "Nghe ông kể về những gì đã trải qua từ ấu thơ trước ngày bước vào Trường Petrus Ký, em biết thế hệ mình đang có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển bản thân, và những cơ hội ấy đã được chính những người như ông mang lại. Chúng em cần suy nghĩ sâu sắc hơn về trách nhiệm mình, mình là "trai thời bình" và sự nghiệp mà mình chọn cần có ý nghĩa, bền vững, lâu dài hơn khi đi cùng sự phát triển của đất nước".

Trong nhóm, có Linh Đan mới học lớp 11 chuyên sử Lê Hồng Phong, em cảm kích viết ngay một bài cảm nhận: "Em thật tự hào khi được gặp một cựu học sinh của chính ngôi trường mình qua 81 năm, thật ngưỡng mộ khi chứng kiến những kiến thức từ ngôi trường vẫn luôn song hành với ông suốt cuộc đời, và những lựa chọn lớn lao mà ông khẳng định đã được ươm mầm từ trường học nữa.

Điều đó khiến em ý thức hơn về mỗi bài học của mình trên lớp, ý thức hơn về tuổi trẻ mình đang có. Tuổi trẻ ấy cũng có thể góp phần vào những việc lớn hơn là lợi ích cá nhân, cũng có thể trở thành một lực lượng giữ gìn độc lập - tự do, xây đắp hạnh phúc cho mọi người".

Và chúng tôi cũng hạnh phúc khi được làm gạch nối giữa hai thế hệ cách nhau 81 năm, tưởng là rất xa nhưng lại thật gần.

Tất cả đã, đang và sẽ hết lòng vì Tổ quốc mình.

Lễ Độc Lập ở Sài Gòn

Nối những câu chuyện tuổi 18 qua 81 nămÔng Tư Cang  - Ảnh 4.

Lễ đài ngày Độc Lập 2-9-1945 trên đại lộ Cộng Hòa - Sài Gòn - Ảnh tư liệu

…Hôm nay, quang cảnh náo nhiệt lạ.

Từ sở công, sở tư cho đến tư gia, tiệm buôn của người Việt và Hoa - kiều đều rực rỡ những cờ của bốn nước đồng minh, phe phẩy quanh lá quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuộc lễ độc lập cử hành đúng 2 giờ chiều. Mới 12 giờ trưa, dưới mặt trời đứng bóng, các đoàn thể dân chúng, các toán dân quân lũ lượt từ trong các trụ sở ở châu thành, các vùng ngoại ô kéo về đại lộ Cộng Hòa (tức đại lộ Norodom vừa đổi tên) tập trung sau nhà thờ Đức Bà.

Điều nên biết là chiều nay, đúng 2 giờ, Chủ tịch Chánh phủ trung ương Hồ Chí Minh sẽ đọc diễn văn trên luồng điện 32 thước.

Hồ Chí Minh!

Người ấy là ai? Thế nào?

Dân chúng muốn nghe lời nói của ông.

Hai giờ.

Tại khoảng đại lộ Cộng Hòa, tại đường Blancsubé, chung quanh đô hội, các đoàn thể dân chúng đứng có trật tự theo bốn sư đoàn dân quân cách mạng.

Ta hãy thú thật và nói thẳng ra những gì rạo rực trong lòng ta lúc bấy giờ, trong giờ phút này. Ta có cảm động chăng và ta có cảm tưởng gì trong khi ta thấy y phục của dân quân toàn là quần đùi, áo ngắn, người mang giày, người chân không, võ khí thì từ liên thanh nhẹ đến súng hai lòng, từ trường kiếm đến dao găm, trong hàng ngũ ấy có những bạn phóng túng của ta ngày hôm qua, có những cậu thanh niên hàng xóm, có những nhà buôn vừa từ giã thị trường, có những “con ông cháu cha” của thời trước.

Ở trên khán đài, gần đủ mặt nhơn viên của Lâm ủy Hành chánh. Không hiểu vì lẽ gì, luồng điện 32 thước bắt không được. Dân chúng đứng đón nghe bài diễn văn của ông Hồ Chí Minh, thất vọng la: "Phá hoại. Có kẻ phá hoại!".

Thì thôi, bây giờ chúng ta hãy nghe bài diễn văn của ông Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm ủy Hành chánh Nam Bộ.

“Hỡi quốc dân!

Hỡi tất cả đồng bào tận tâm cứu quốc! Việt Nam từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước độc lập.

Việt Nam từ một đế quốc đã trở thành một nước Dân chủ Cộng hòa.

Việt Nam đương tiến bước trên đường sống, sống danh dự với hoàn cầu.

Hôm nay, tuân theo mạng lịnh của Chánh phủ trung ương do đồng chí Hồ Chí Minh lãnh đạo, chúng ta làm lễ độc lập mừng những ngày thắng lợi đầu tiên…

...Quốc dân! Hãy sẵn sàng chiến đấu.

Đồng bào! Hễ gặp dịp thì hiến thân cho nước.

Đứng lên!

Ngày độc lập bắt đầu từ nay.

Tiến tới, vì độc lập, vì tự do.

Tiến tới mãi, không một thành lũy nào ngăn nổi chí muôn dân trên đường giải phóng”.

Sau bài diễn văn của ông Trần Văn Giàu và những lời thề phụng sự Tổ quốc, cuộc biểu diễn của lực lượng dân quân khởi sự từ đại lộ Cộng Hòa, một tốp đổ xuống đường Bá-lê-công-xã (tức Catinat), một tốp quẹo đường Yersin (tức Taderd), đi có trật tự dưới những biểu ngữ giăng ngang đường viết bằng các thứ chữ Anh, Nga, Pháp, Tàu và Việt.

“Độc lập hay là chết” - “L’Indépendance ou la mort” - “Independence or death”.

“Việt Nam dân chủ muôn năm” - “Vive le Việt Nam démocratique” - “Việt Nam democracy forever”.

“Đả đảo thực dân Pháp”.

Thình lình, súng nổ.

Nổ trước Nhà thờ Đức Bà, nổ trước hãng Jean Comte, và chập sau, tiếng nổ đều trong vùng trung tâm thành phố.

Trời đương nắng bỗng sẫm tối. Mây đen vần vũ. Mưa lấm tấm rơi. Cuộc xung đột mà có một vài người phỏng định đã không tránh khỏi…

(trích “SaiGon September 45” - Trần Tấn Quốc - Chương 1: Máu rơi trong ngày độc lập)