Từ vụ 3.000 tấn mì tươi chứa chất cấm: Đừng chuộng ‘trắng, dai, để lâu’

Từ vụ gần 3.000 tấn mì tươi chứa chất cấm, chuyên gia cảnh báo thói quen chuộng sản phẩm ‘trắng, dai, để lâu’ có thể tiềm ẩn rủi ro cho sức khỏe người tiêu dùng.
Từ vụ 3.000 tấn mì tươi chứa chất cấm: Đừng chuộng ‘trắng, dai, để lâu’ - Ảnh 1.

Mì tươi chứa chất cấm được cơ quan điều tra thu giữ - Ảnh: Đ.T.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, TS Nguyễn Bảo Toàn - khoa công nghệ thực phẩm, Trường đại học Công Thương TP.HCM - cho biết việc kéo dài thời gian bảo quản đối với nhóm thực phẩm tươi giàu tinh bột, độ ẩm cao như bún, mì tươi, bánh phở… là hoàn toàn có thể thực hiện bằng các biện pháp hợp pháp.

Vấn đề cốt lõi là phải kiểm soát vi sinh vật, độ ẩm, nhiệt độ, bao gói và nguy cơ tái nhiễm, thay vì dùng hóa chất công nghiệp hoặc chất bị cấm.

Bún, mì tươi vẫn có thể để lâu mà không cần chất cấm

Các nghiên cứu về mì tươi và mì gạo ướt đều chỉ ra rằng sản phẩm này nhanh hỏng chủ yếu do hàm lượng nước cao, giàu dinh dưỡng, dễ nhiễm vi sinh vật và xảy ra biến đổi tinh bột, dẫn đến chua, nhớt, mốc, giảm độ dai và giảm chất lượng cảm quan.

"Vấn đề là cơ sở sản xuất phải đầu tư vào quy trình hợp pháp: kiểm soát vệ sinh, xử lý nhiệt, làm nguội nhanh, bao gói sạch, bảo quản lạnh, duy trì chuỗi lạnh và chỉ sử dụng phụ gia được phép theo đúng giới hạn. Hàn the, natri silicat hoặc các hóa chất ngoài danh mục không phải là giải pháp công nghệ, mà là hành vi vi phạm pháp luật, đánh đổi sức khỏe cộng đồng để giảm chi phí", TS Nguyễn Bảo Toàn cho hay.

Cũng theo TS Nguyễn Bảo Toàn, có thể lý giải nguyên nhân nhiều cơ sở vẫn bất chấp sử dụng chất cấm vào sản xuất thực phẩm như:

Lợi nhuận và chi phí sản xuất: Sản xuất đúng chuẩn đòi hỏi chi phí lớn như nhà xưởng tách biệt, nền thoát nước, nước sạch, thiết bị inox, khâu làm nguội sạch, bao gói, kho lạnh, xe lạnh, kiểm nghiệm định kỳ, hồ sơ truy xuất nguồn gốc. 

Trong khi đó chất cấm như hàn the hoặc natri silicat có thể tạo hiệu ứng nhanh, làm sợi dai, giòn, khó đứt, lâu chua, lâu nhớt và dễ bán hơn.

Sản xuất nhỏ lẻ dễ bỏ qua tiêu chuẩn kỹ thuật: Ở nhiều cơ sở nhỏ, sản xuất bún, mì, bánh phở… vẫn theo mô hình thủ công, bán nhanh trong ngày, ít nhãn mác, ít kiểm nghiệm.

Khi muốn mở rộng sản lượng nhưng không đầu tư tương ứng vào thiết bị, nhà xưởng và bảo quản lạnh, một số đối tượng chọn cách dùng hóa chất để "giữ hàng".

Về bản chất, đây không chỉ là lỗi dùng sai phụ gia, mà là một mô hình sản xuất không kiểm soát được nguy cơ an toàn thực phẩm. Chất cấm chỉ là phần nổi của vấn đề; phần chìm là điều kiện sản xuất, quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc yếu.

Áp lực thị trường: giá rẻ, đẹp mắt, dai lâu. Theo đó, nếu người mua sỉ, quán ăn hoặc người tiêu dùng cuối cùng chỉ quan tâm sản phẩm "trắng, dai, rẻ, để lâu không chua", cơ sở làm đúng có thể sẽ gặp bất lợi.

Sản phẩm không dùng chất cấm thường có hạn dùng ngắn hơn, đòi hỏi bảo quản lạnh và chi phí cao hơn. Trong khi đó sản phẩm vi phạm có thể bán rẻ hơn, vận chuyển xa hơn, để ngoài môi trường lâu hơn. Đây là dạng cạnh tranh không lành mạnh, cơ sở vi phạm dùng hóa chất để giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh, còn cơ sở tuân thủ phải chịu chi phí cao hơn.

Cuối cùng là nhận thức sai: Một số người sản xuất vẫn xem hàn the, natri silicat như "mẹo nghề", bí quyết giữ sợi, dùng ít không sao. Đây là nhận thức sai nghiêm trọng.

Hàn the không phải phụ gia được tự do dùng trong bún, mì; natri silicat cũng không phải chất được phép tùy tiện cho vào thực phẩm. Về pháp lý, việc dùng phụ gia, hóa chất ngoài danh mục hoặc chất cấm có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành.

mì tươi - Ảnh 2.

Hóa chất thu dùng để sản xuất mì tươi - Ảnh: Đ.T.

Cần bỏ thói quen chuộng thực phẩm trắng, dai, lâu bất thường

TS Nguyễn Bảo Toàn cho rằng thị hiếu người tiêu dùng là một yếu tố góp phần tạo nhu cầu cho sản phẩm vi phạm, tuy nhiên đây không phải nguyên nhân duy nhất và không làm giảm trách nhiệm pháp lý của người sản xuất.

Với bún, mì, bánh phở… nhiều người tiêu dùng vẫn có thói quen đánh giá sản phẩm bằng cảm quan càng trắng, càng dai, càng giòn, càng để lâu không chua thì càng được cho là ngon. Tuy nhiên dưới góc độ an toàn thực phẩm, các dấu hiệu "quá hoàn hảo" này đôi khi lại cần được đặt câu hỏi, nhất là khi sản phẩm tươi không được bảo quản lạnh, không nhãn mác, không ngày sản xuất nhưng vẫn để lâu bất thường.

Các nghiên cứu về mì tươi và bún gạo tươi đều cho thấy sản phẩm này dễ hư hỏng do vi sinh vật và biến đổi chất lượng nếu không có biện pháp bảo quản phù hợp. Vì vậy việc người tiêu dùng kỳ vọng sản phẩm tươi nhưng để lâu có thể vô tình khuyến khích cơ sở sản xuất tìm cách kéo dài hạn dùng bằng biện pháp sai.

Tuy nhiên trách nhiệm chính vẫn thuộc về cơ sở sản xuất, kinh doanh vì cơ sở sản xuất có nghĩa vụ biết và tuân thủ quy định pháp luật. Ngoài ra người tiêu dùng không có điều kiện kiểm nghiệm hàn the, natri silicat hay các chất không được phép bằng mắt thường, vì vậy không thể đẩy trách nhiệm chính sang người mua.

Do đó người tiêu dùng nên chuyển từ tiêu chí "đẹp, dai, rẻ" sang tiêu chí "an toàn, rõ nguồn gốc, bảo quản đúng".

Tóm lại, các vụ việc phát hiện cơ sở sản xuất bún, mì tươi không đạt yêu cầu hiện nay cho thấy cần nhìn an toàn thực phẩm như một chuỗi trách nhiệm: nhà sản xuất cần phải tuân thủ pháp luật; cơ quan chức năng phải tăng kiểm tra, truy xuất và xử lý nghiêm; còn người tiêu dùng cần từ bỏ thói quen chuộng thực phẩm trắng bất thường, dai bất thường, rẻ bất thường, để lâu bất thường.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề