Những ngày đầu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Nghe tiếng dân, lo việc nước

Những lát cắt từ các văn bản hành chính được lưu trữ trong nhiều kho tư liệu đã cho thấy Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ năm 1945 như một bộ máy đang học cách vận hành, vừa thiếu kinh nghiệm, vừa thiếu tiền, nhưng gắn kết được với dân qua cơ chế lắng nghe và phản hồi cụ thể.
 - Ảnh 1.

Phòng trưng bày về Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia là nơi thu hút nhiều người xem dịp lễ 2-9 năm nay - Ảnh: PHÚC TÀI

Chỉ cần nhìn vào những lát cắt này cũng đủ thấy tính chính danh của một chính quyền cách mạng trong giai đoạn lập quốc không chỉ đến từ tuyên bố, mà còn từ hàng nghìn giao dịch hành chính nhỏ lẻ được xử lý một cách có trách nhiệm.

Năm 1945, ngày 17-8, tại trụ sở Hội Khai trí Tiến đức ở Hà Nội, Hội nghị tư vấn quốc gia Bắc chi bộ được khai mạc trong tình thế Việt Nam ở giữa vòng vây của nhiều đế quốc ngoại bang.

Tham dự Hội nghị có nhiều nhân sĩ trí thức lớn - cũng chính là những người sẽ tiếp tục hiện diện trong nền hành chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những năm đầu gầy dựng nhiều khó khăn và cũng đầy kỳ vọng tương lai. 

Đó là nhà khoa học Nguyễn Xiển, nhà văn hóa Nguyễn Văn Huyên, bác sĩ Trần Văn Lai, luật sư Vũ Đình Hòe….

Trong Hội nghị tư vấn tháng Tám ấy, học giả Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân (1906-1949) và nhiều đại biểu khác nhất mực nêu cao trách nhiệm đầu tiên của chính phủ là giữ vững lấy nền độc lập, lập ngay một ủy ban cứu quốc.

Những bức thư khẩn thiết về cơ sở

Tròn một tháng sau, ngày 17-9-1945, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã gửi thư tới tất cả các anh em phụ trách ở phủ huyện tổng xã của các tỉnh khắp Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ trong thể chế mới, nhắc nhở về bổn phận của những người phục vụ dân.

Thư có đoạn: "Thơ này, tôi không zùng zanh nghĩa chủ tịch của chính phủ, nhưng chỉ lấy zanh nghĩa của một người đồng chí già mà viết, để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí. 

1. Cuộc dân tộc cách mệnh thành công này, có những ý nghĩa rất to tát mà chúng ta cần phải nhận rõ. Ý nghĩa đó là trong một thời gian rất vắn, chúng ta đã fá tan chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm nay. Chúng ta đã đánh đổ cái nền thống trị của hai đế quốc chủ nghĩa - Pháp và Nhật. Chúng ta đã lập nên một chính thể zân chủ cộng hòa … 

3. Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đến công việc dọn dẹp sắp đặt, giữ gìn kiến thiết…".

 - Ảnh 2.

Bản sao thư 17- 9-1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nguồn: ANOM

Giữa trăm ngàn bề bộn của cuộc chuyển dời hai thể chế, bao nhiêu vấn đề liên quan sinh kế của quốc dân, vận hành của kinh tế, nội lực của chính thể, vị thế của quốc gia, đều cần tới tiền. Và chính nhân dân, cá nhân hay tổ chức, đều lắng nghe và đáp lời hiệu triệu gầy dựng ngân sách quốc gia.

Quốc gia cần quốc khố

Mùa thu 1945, Tuần lễ Vàng đã khai mạc, bắt đầu từ ngày chủ nhật 16-9, để mỗi tầng lớp trong xã hội đều có thể quyên vào quỹ Quốc phòng. 

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Bắc Bộ là nhà khí tượng học Nguyễn Xiển (1907-1997) đã ký ban hành văn bản "yêu cầu anh em [công chức] vui lòng cúng một ngày lương (kể cả các phụ cấp) vào quỹ ấy. 

Tiền ấy sẽ nộp vào kỳ lương cuối tháng 9 dương lịch này". Văn bản này nêu: "Riêng về các công chức, Chính phủ không quên rằng phần đông anh em đang sống trong cảnh đời eo hẹp. Tuy nhiên, muốn cho tất cả các công chức đều có vinh dự được giúp một phần nhỏ vào quỹ Quốc phòng".

Ở danh nghĩa Bác cổ Học viện [EFEO] - cơ quan chuyên khảo văn hóa bản địa được người Pháp mở ra chi nhánh tại Hà Nội - nhiều trí thức tân cổ giao hòa cũng góp quỹ vì nước.

Từ đất Cổ Loa, các vị phụ lão gửi thư tay tới Chủ tịch chính phủ và quyên góp những đồng tiền từ hoa lợi mong gởi tới đồng bào Nam Bộ kháng chiến.

 - Ảnh 3.

Thư của phụ lão xã Cổ Loa (Đông Anh, Phúc Yên) gửi Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 9-1945 - Nguồn: ANOM

Tuần lễ Vàng được bế mạc tại Hà Nội ngày 30-9-1945, song sự đóng góp của đồng bào vẫn không dứt.

Cuối năm ấy, những môn sinh của cụ Lê Văn Thiện, người xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, Phúc Yên yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh "chuyển giúp số tiền nhỏ mọn" vào quỹ giúp đồng bào Nam bộ kháng chiến và một nửa vào quỹ cứu tế giúp dân bị lụt Bắc bộ". 

Bức thư có đoạn "Nguyên cứ hàng năm đến ngày giỗ thầy học chúng tôi, anh em môn sinh sửa một sinh lễ, trước làm lễ thầy học, sau anh em uống rượu. Nhưng năm nay… chúng tôi đã đồng lòng làm lễ thày chúng tôi chỉ có giàu rượu để trích lấy số tiền là 200$. Chúng tôi xin cúng 100$ để thêm lấy tiền mua súng giúp anh em Nam bộ và 100$ giúp anh em bị lụt".

Trong nhiều công văn mà Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Bắc Bộ gửi người đứng đầu các Ủy ban cấp tỉnh và thành phố khi ấy, hiện rõ một sự khẩn khoản trong điều hành. Với mục đích được nêu rõ, là "Tuần lễ Vàng và Quỹ Độc lập là giữ vững nền độc lập, chống ngoại xâm", các công văn đưa ra những yêu cầu rất cụ thể:

- "Bản bộ yêu cầu khẩn cấp đánh điện cho các Ủy ban Hành chính các tỉnh thuộc Bắc bộ cho biết gấp số tiền quyên về quỹ Độc lập đến ngày hôm nay được là bao nhiêu? Đã tiêu bao nhiêu? Còn lại bao nhiêu?"

- "Yêu cầu quý Ủy ban kiểm điểm ngay lại các số vàng, bạc, tiền…, đã thu được, và làm bảng kê khai rất rõ ràng (vàng tây, vàng ta, bạc non, bạc đồng và bạc hào xu, tiền giấy, thóc gạo, đồ đồng, nhà cửa… nếu có) gửi về Bắc bộ thành ba bản. Để tiện việc kiểm soát, giấy má cần phải làm rất chu đáo để Bắc bộ sẽ giao lại Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính. Những số tiền, bạc, vàng, thóc gạo… quyên được sẽ phải để tùy quyền Bộ Quốc phòng định đoạt".

 - Ảnh 4.

Dân quân cứu nước Nam Bộ trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến 1945.

Dân doanh năng động

Từ tháng 9-1945, Ủy ban nhân dân cách mạng và Nha Kinh tế thuộc Bắc Bộ phủ đã nhận được đơn từ nhiều thương nhân, doanh nghiệp quốc nội và nhà buôn, hãng của Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc… khẩn thiết đề nghị được cấp giấy thông hành - chứng nhận để họ có thể đi đến nhiều địa phương tái thiết việc thương mãi, sản xuất.

Nhà buôn muối Nguyễn Thụy Trọng buôn bán ở Lạng Sơn xin được phép "mua ở Hải Phòng 50 tấn muối để đem lên Lạng Sơn bán lại cho dân chúng".

Doanh nghiệp Pháp Société Industrielle métallurgique de l'Indochine (SIMI, Hiệp hội Công nghiệp luyện kim Đông Dương) có trụ sở ở Hà Nội, có lò đúc ở Đáp Cầu (Bắc Ninh) xin cấp cho giấy thông hành cùng chứng thực và "cần nhất xin Ủy ban bảo vệ cho chúng tôi được lên thăm lò mà sửa chữa để được tiếp tục công việc. Nay phải nghỉ như thế, chúng tôi trộm nghĩ cũng tổn thương tới nền kinh tế nước nhà".

Hãng buôn Nhật Bản Nichimen Jitsugyo Kabushiki Kaisha sở trường về sản phẩm bông vải sợi có văn phòng tại Hà Nội xin cấp cho đối tác người Việt Nam "một tờ giấy chứng nhận, thông hành để dễ dàng công việc thu sợi" và trao trả nguyên liệu sản xuất.

Hãng buôn Tzi-Cheong (Chí Xương) của người Trung Quốc tọa lạc tại phố Hàng Ngang ngày nay ở Hà Nội, ngay từ cuối tháng 8-1945 đã kiến nghị lên Chánh Nha Kinh tế Bắc Bộ về vấn đề kiểm soát những hóa hóa thuộc về hạng may mặc, "bây giờ thiên hạ thái bình, thiết tưởng sự kiểm soát các thứ hàng sẽ phải thủ tiêu. Số hàng hóa mà Nhà nước bát buộc bản hiệu phải bán theo thể lệ kiểm soát trị giá không phải là ít và giá buôn vào thì rất cao (ví dụ chỉ khâu giá hiện thời = 9$ một tá, giá thời bình = 2$50 một tá). Vậy nếu đợi cho giá hàng vì tình thế mà bị sụt xuống và hàng ngoại quốc tràn vào thì sự thua lỗ của bản hiệu ít nhất cũng mất 80%".

Garage Aviat tại Hà Nội (thuộc doanh nghiệp Pháp Aviat et Compagnie), là đại lý xe hơi của Citroën từ thời thuộc Pháp đã linh hoạt nghề nghiệp để tránh thua lỗ và cống hiến ý tưởng với ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Bắc Bộ trong những ngày đầu chính thể muôn vàn thiếu thốn.

Văn bản ghi lại đề xuất chi tiết cách giải quyết vấn đề: "Sở Công chính Bắc bộ có mang lại sở chúng tôi hai cái máy xe hơi để chữa, nhưng… Sở Công chính không có tiền. Tôi thiết nghĩ nếu các sở nhà nước cứ viện lẽ không có tiền mà không chữa những xe hỏng, khi Chính phủ dùng đến thì lấy xe đâu ra… tôi thiết nghĩ dù không có tiền, ta cũng có thể cho xe chạy được như ví dụ: Sở Công chính có 6 cái xe hỏng để nằm một chỗ, bây giờ ông cho phép bán đi 3 cái để lấy tiền chữa e cái còn lại, và nếu áp dụng theo lối này thì: 1. Sở Công chính có thêm xe hoàn toàn chạy được; 2. Các tư gia mua xe cũ về bỏ tiền ra chữa lại, như thế trong nước sẽ có thêm nhiều xe dùng; 3. Giúp các thợ thuyền đương thất nghiệp có việc làm".

Thường dân cầu sinh kế

Tháng 11-1945, xứ Bắc vào mùa thu - đông se sắt da thịt, Hội Hợp Thiện Bắc kỳ đệ trình văn thư tới Giám đốc Sở Kinh tế Bắc Bộ báo cáo tình hình và đề xuất cụ thể hướng giải quyết.

Văn thư có đoạn: "Chúng tôi hiện có 120 trẻ em bồ côi và vô thừa nhận từ 8 đến 15 tuổi nuôi tại Dục Anh đường của bản Hội, và 60 thuộc viên đủ các hạng (phu xe, phu đào huyệt, tùy phái…) đang ở trong cảnh túng thiếu, đói rét. Đối với bọn trẻ trên, bản Hội có trách nhiệm phải may mặc cho chúng, còn bọn dưới, để tự họ may được một bộ quần áo là chuyện họ không sao làm nổi trong lúc này. Vậy xin ngài làm ơn cấp cho bản Hội một giấy phép mua một số vải thô sơ để cho họ đủ may được mỗi người 1 bộ quần áo trong mùa rét sắp tới".

Khi ấy, Bộ trưởng Bộ Kinh tế đã được báo cáo về việc "Gần đây có nhiều nhà buôn ta và Trung Hoa tại Bắc bộ và Trung bộ đem rất nhiều vải, sợi đan và chỉ khâu bán một giá chợ đen rất đắt. Những hàng hóa này đáng lẽ phải đợi lệnh Chính phủ để bán theo giá hội đồng cho dân chúng dùng. Vậy Ngài nên xét xem các nhà buôn ấy nếu nhà nào hàng thì phải bán ngay cho dân theo giá Chính phủ định".

Cùng tháng này, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp là Chủ tịch Cơ quan Cứu tế Y tế Bắc Bộ gửi thư tới Giám đốc Xưởng dệt, "xin cho biết ông có thể dệt những áo đay ruộm nâu cho dân nghèo được không? Giá một bộ là bao nhiêu? Và trong 15 hôm ông có thể sản xuất được bao nhiêu? Để tôi trù tính đến vụ rét này, xem có thể đặt ở xưởng ông, để ngộ có phải phát cho dân nghèo".

Không chỉ dân nghèo ít học chao đảo trong cuộc đổi đời. Ông Ngô Vi Liễn (1894-1945) là học giả thông thạo cổ học và tân học, là tác giả của nhiều sách địa dư Bắc kỳ có giá trị tương đương những sưu tập văn hiến quý hiếm, là viên chức của thể chế quân chủ - thuộc địa. Ông bị bệnh nằm liệt giường nhiều năm rồi qua đời tháng 5-1945.

Chuyện cái ăn cái mặc của vợ con ông, cũng như không ít quả phụ cô nhi của giới quan viên - học thức chiếm một phần không nhỏ trong số hồ sơ hành chính buổi giao thời. 

Tháng 3-1946, thể theo đơn của vợ góa ông Ngô Vi Liễn là bà Nguyễn Thị Sen, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến (1904-1997) đã ký Nghị định tiếp tục chu cấp lương quả phụ cùng lương cô nhi cho mẹ con bà. Món tiền ấy cả thảy là 325 đồng mỗi năm, cứ ba tháng lĩnh một lần tại Hà Nội, do Sở Hưu bổng Đông Dương đảm trách.

Trước đó, đã có Sắc lệnh của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ký ban hành ngày 3-10-1945 về việc bãi bỏ hết thảy công sở và cơ quan trước thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương, trong ấy có Sở Hưu bổng Đông Dương. 

Song thực tế, việc chuyển giao thể chế cũng như sự vận hành các cấp trên dưới không thể lập tức quyết đoán suôn sẻ theo văn bản hành chính.

 - Ảnh 5.

Mẫu thẻ công dân năm 1945

Có những trở ngại xảy ra từ ngay trong bộ máy hành chính địa phương, và những trở ngại này đã được thông tin và xử lý ngay lập tức, bất kể đó là một người dân hay nhiều người.

Ngày 9-9-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã gửi công văn tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thạch Thất (Sơn Tây) về việc: "Ông Vương Duy Lợi đã được Chính phủ cấp giấy thông hành để đi công tác cùng với ông Đinh Danh Dương. Không những hai ông ấy không được Ủy ban nhân dân Thạch Thất giúp đỡ, lại còn phải giam cầm, mất đồ vật, ô tô hư hỏng".

Đổng lý Văn phòng là nhà ngoại giao Hoàng Minh Giám (1904-1995) thay mặt Bộ trưởng ký công văn này với kết luận "Mỗi khi các người có giấy của Chính phủ cấp đi công tác, các Ủy ban địa phương nên hết sức giúp đỡ trong khi thừa hành nhiệm vụ".

Chính Chủ tịch Chính phủ đã viết gửi những người đứng đầu các cấp hành chính ngày 17-9-1945 ấy: "Chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều, nào quân sự nào ngoại giao, nào tài chính… trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị".

Trong thư ấy, ông cũng khẳng định: "Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó". 

Bởi lẽ, mặc dầu những đổi dời, trên vai nặng gánh sinh nhai, trong tâm tưởng người dân Việt thủa 1945 ấy là ý chí "Một lòng gìn giữ núi sông, Núi sông Lạc Hồng, hồn thiêng còn đó, Dục dã theo anh hùng vì nước non quên mình, Chúng ta thường ước mong rằng, Dân Việt Nam anh dũng muôn ngàn năm".

Tháng năm rồi cũng cất những công văn ấy vào văn khố, nhưng những điều lớn lao hơn vẫn còn lại. Đó không phải là câu chữ, mà là một nguyên tắc vận hành: một chính quyền non trẻ, thiếu kinh nghiệm, thiếu cả tiền lẫn người, đã chọn cách đứng vững bằng việc lắng nghe. 

Lắng nghe từ tiếng kêu của phụ lão, tiếng than của nhà buôn, đến tiếng khẩn cầu của những đứa trẻ mồ côi. Không có tuyên ngôn nào đủ sức thay cho hàng nghìn lá đơn được hồi đáp như thế.

Và có lẽ, chính từ những mảnh vụn hành chính tưởng như nhỏ nhặt ấy, chứ không phải từ khẩu hiệu, mà một nhà nước mới đã tự chứng minh được lý do nó xứng đáng tồn tại và lãnh đạo quốc dân.

Chú thích: Các trích đoạn tư liệu trong bài được giữ nguyên theo văn bản gốc