Lời tòa soạn
85 mùa xuân kể từ ngày Bác Hồ về nước, Pác Bó (Cao Bằng) hôm nay không chỉ là một di tích lịch sử uy nghiêm trên sách vở. Nơi đây còn là "nhà", là không gian sinh tồn của hơn 100 hộ dân đồng bào Tày, Nùng đang ngày đêm nép mình bên dòng suối Lê-nin.
Từ vùng căn cứ địa gian khó năm xưa, diện mạo đời sống của người dân sống trong vùng lõi di tích giờ ra sao? Di sản đã len lỏi vào nếp nhà, vào sinh kế của bà con như thế nào? VietNamNet trân trọng giới thiệu loạt bài ghi nhận thực tế từ "cội nguồn cách mạng", nơi nhịp sống hiện đại đang hòa quyện cùng ký ức lịch sử.
Những kỷ vật "biết nói" ở Pác Bó
Những ngày tháng 1/2026, không khí tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó (xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) nhộn nhịp hơn thường lệ. Dòng người từ khắp mọi miền Tổ quốc đổ về đây không chỉ để vãn cảnh "sơn thủy hữu tình" mà để tìm về cội nguồn, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặt những viên gạch đầu tiên cho nền độc lập dân tộc.
Cách đây 85 năm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc qua mốc 108, sau 30 năm bôn ba. Ảnh: Lê Anh Dũng
Giữa không gian hùng vĩ của núi Các Mác và dòng suối Lê-nin trong xanh, hình ảnh những nữ hướng dẫn viên trong trang phục áo chàm truyền thống của người Tày, Nùng trở nên thân thuộc. Nhưng ít ai biết, đằng sau sự duyên dáng ấy là một áp lực nghề nghiệp không hề nhỏ: Làm sao để những câu chuyện lịch sử cách đây 85 năm không bị khô cứng? Làm sao để du khách cảm nhận được "chất thép" và "chất tình" của Bác trong những ngày gian khó ấy?
Chị Đào Thị Hiên, một thuyết minh viên kỳ cựu với gần 10 năm gắn bó tại đây, chia sẻ rằng thách thức lớn nhất không phải là thuộc lòng hàng trăm trang tư liệu, mà là khả năng "thổi hồn" vào hiện vật.
"Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/ Hai tay xây dựng một sơn hà...".
Giọng đọc thơ trầm ấm của chị Hiên vang lên bên bờ suối Lê-nin khiến đoàn khách lặng đi. Chị không bắt đầu bằng những số liệu khô khan, mà bắt đầu bằng thơ của Bác.
Chị Đào Thị Hiên trong một lần thuyết minh cho du khách.
Dựa trên tài liệu thuyết minh được nghiên cứu kỹ lưỡng, chị Hiên giải thích cặn kẽ: "Pác Bó theo tiếng địa phương là 'miệng nguồn'. Dòng nước này chảy từ lòng núi ra, quanh năm trong mát. Năm xưa, Bác đặt tên suối là Lê-nin, tên núi là Các Mác không chỉ để kỷ niệm, mà đó là cương lĩnh hành động, là kim chỉ nam cho con đường giải phóng dân tộc mà Người đã chọn".
Khi dẫn khách vào hang Cốc Bó, chị Hiên không chỉ giới thiệu diện tích hay cấu tạo địa chất. Chị tái hiện lại cái lạnh thấu xương của mùa đông vùng cao năm 1941.
"Hang rộng nhưng rất ẩm ướt. Để chống chọi với cái lạnh, Bác phải chọn một phiến đá bằng phẳng để kê làm giường. Nhưng mặt đá lạnh và gồ ghề, Người đã dùng những tấm ván gỗ cây nghiến sần sùi kê lên để nằm đỡ đau lưng. Bếp lửa sưởi ấm được đặt ngay cạnh chỗ nằm, khói thường xông lên cay xè mắt...", chị Hiên thuật lại chi tiết.
Bàn ghế đá Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc thời kỳ 1941-1945. Ảnh: Trọng Tùng
Chính những chi tiết đắt giá như "tấm ván gỗ nghiến", "bếp lửa khói cay" được phục dựng qua lời kể đã giúp du khách hình dung rõ nét sự hy sinh thầm lặng và phong thái ung dung tự tại của vị lãnh tụ. Những hòn đá, vách hang vô tri bỗng chốc trở thành chứng nhân lịch sử, biết "kể" về một thời kỳ “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”.
Ký ức về "đại tang màu trắng" và sợi dây tình cảm quân dân
Điểm đặc biệt trong phương pháp thuyết minh tại Pác Bó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa "chính sử" (tư liệu thành văn) và "dã sử" (ký ức truyền miệng trong dân gian). Đây chính là chất liệu tạo nên sự khác biệt, khiến bài thuyết minh trở nên mềm mại và giàu cảm xúc.
Một trong những câu chuyện luôn lấy đi nước mắt của du khách là ký ức về ngày Bác mất. Chị Hiên kể, câu chuyện này không có trong sách giáo khoa, mà được các cụ cao niên trong bản Pác Bó truyền lại cho con cháu.
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh bên bờ suối Lê-nin, năm 1969. Ảnh: BQL Pác Bó
"Năm 1969, khi nghe tin Bác Hồ đi xa, cả bản Pác Bó chìm trong không khí tang thương. Không ai bảo ai, từ người già đến trẻ nhỏ đều tự nguyện mặc trang phục đại tang màu trắng, lặng lẽ ra bờ suối Lê-nin để tưởng niệm Người. Trong phong tục của đồng bào Tày, Nùng, màu trắng là màu tang phục chỉ dành để mặc khi cha mẹ ruột qua đời. Hành động ấy là minh chứng sắt son nhất cho thấy: Trong tâm khảm người dân Pác Bó, Bác không chỉ là một vị lãnh tụ, Bác là Người Cha, là người thân ruột thịt", chị Hiên nghẹn ngào chia sẻ.
Chi tiết này không chỉ minh chứng cho tấm lòng thủy chung của đồng bào các dân tộc Cao Bằng, mà còn làm sáng tỏ luận điểm "nhân hòa" - một trong ba yếu tố (thiên thời - địa lợi - nhân hòa) khiến Bác chọn Pác Bó làm căn cứ địa cách mạng.
Tháng 1/2026, dòng người nối nhau tìm đến Pác Bó. Ảnh: Trọng Tùng
Đối với bản thân những người làm nghề như chị Hiên, những câu chuyện ấy không chỉ là tư liệu làm việc, mà còn là bài học để tự răn mình.
"Mỗi ngày kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác, bản thân tôi cũng như được soi chiếu. Tôi học cách sống chậm lại, bớt những sân si, toan tính đời thường để sống giản dị và có trách nhiệm hơn với cộng đồng", chị Hiên tâm sự.
Người "gác đền" tận tụy
Rời khu vực hang Cốc Bó và suối Lê-nin, du khách đến với Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một công trình mang ý nghĩa tâm linh và tri ân sâu sắc nằm trong quần thể di tích. Tại đây, câu chuyện về những người "giữ lửa" lại mang một màu sắc khác: Sự trang nghiêm và lòng thành kính.
Chị Vi Thị Hồng Thoa, hướng dẫn viên tại đền thờ, cho biết công việc tại đây đòi hỏi sự chỉn chu tuyệt đối. Mỗi ngày, đền thờ đón hàng nghìn lượt khách, cao điểm là các dịp lễ, Tết. Áp lực không chỉ nằm ở số lượng khách, mà còn ở việc giữ gìn không khí tôn nghiêm của chốn thờ tự.
Chị Vi Thị Hồng Thoa, hướng dẫn viên Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
"Công việc của chúng tôi không chỉ là thuyết minh, mà còn là hướng dẫn du khách thực hiện các nghi thức dâng hương đúng quy định, chăm chút từng nén tâm nhang, từng lọ hoa trên ban thờ. Chúng tôi phải làm sao để khi bước chân vào đây, du khách cảm thấy ấm cúng như trở về ngôi nhà của chính mình", chị Thoa chia sẻ.
Nhiều năm gắn bó với đền thờ, chị Thoa đã chứng kiến vô vàn khoảnh khắc xúc động. Có những đoàn cựu chiến binh tóc đã bạc trắng, chân bước đi không còn vững, nhưng khi đứng trước tượng đài Bác, họ vẫn cố gắng đứng thẳng người, giơ tay chào theo nghi thức quân đội, mắt rưng rưng lệ. Hay những đoàn học sinh, sinh viên lần đầu tiên được nghe giải thích về bức hoành phi "Hồng nhật cao minh" (Mặt trời đỏ chiếu sáng trên cao), gương mặt các em ánh lên niềm tự hào.
Hình ảnh Bác Hồ với nhân dân tỉnh Cao Bằng được trưng bày trang trọng tại khu di tích Pác Bó.
"Chính những khoảnh khắc ấy là động lực để chúng tôi – những người thế hệ sau – càng thêm trân trọng công việc mình đang làm. Chúng tôi ý thức rằng, mình không chỉ là người giới thiệu di tích, mà là người kết nối tâm linh, nối dài sợi dây tình cảm của đồng bào cả nước hướng về Bác", chị Thoa bộc bạch.
Kiến tạo "không gian Hồ Chí Minh" từ những con người cụ thể
Trao đổi với phóng viên, ông Đào Văn Mùi, Giám đốc Ban Quản lý các di tích Quốc gia đặc biệt tỉnh Cao Bằng, khẳng định: Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, Khu di tích Pác Bó cũng đang từng bước đổi mới.
Theo Đề án tổ chức kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ về nước, tỉnh Cao Bằng đang triển khai số hóa các hiện vật, xây dựng các tour du lịch thực tế ảo (VR/AR) để du khách có thể trải nghiệm không gian lịch sử đa chiều.
Ông Đào Văn Mùi nghẹn ngào khi kể về những năm tháng gắn bó tại khu di tích Pác Bó. Ảnh: Trọng Tùng
Tuy nhiên, ông Mùi nhấn mạnh, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người.
"Mỗi hiện vật tại Nhà trưng bày hay ngoài thực địa đều mang hơi thở của lịch sử. Nếu chỉ có máy móc thuyết minh, cảm xúc sẽ bị vơi đi ít nhiều. Chính đội ngũ hướng dẫn viên như cô Hiên, cô Thoa... là những người 'thổi hồn' vào di sản, là cầu nối trực tiếp để truyền tải những giá trị nhân văn sâu sắc nhất đến du khách", ông Mùi cho biết.
Cũng theo ông Mùi, để chuẩn bị cho sự kiện 85 năm và xa hơn là vận hành hiệu quả "Không gian văn hóa Hồ Chí Minh", Ban Quản lý đang tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thuyết minh viên. Không chỉ yêu cầu chuẩn hóa về kiến thức lịch sử, họ còn được trang bị thêm kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng mềm để sẵn sàng đón những dòng khách quốc tế, đặc biệt là từ tuyến du lịch hợp tác Việt - Trung.
Khu di tích Pác Bó nằm giữa núi rừng. Ảnh: Đức Hoàng
Chia sẻ cảm xúc sau chuyến tham quan, chị Trần Thị Thu, một du khách đến từ Hà Nội, cho biết: "Tôi đã đọc nhiều sách báo, xem nhiều phim tư liệu về Bác. Nhưng khi đứng giữa đại ngàn Pác Bó, nghe giọng kể mộc mạc, chân tình của các hướng dẫn viên, tôi mới thực sự 'chạm' được vào quá khứ. Những câu chuyện về chiếc bàn đá chông chênh, về tấm ván gỗ nghiến... qua lời kể của các chị đã trở nên sống động hơn bao giờ hết. Nó giúp thế hệ trẻ chúng tôi hiểu rằng, độc lập tự do ngày hôm nay được đánh đổi bằng bao hy sinh gian khổ của cha ông".
85 năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ đặt bước chân đầu tiên qua mốc 108 trở về Tổ quốc. Dòng suối Lê-nin vẫn miệt mài chảy, và những người "giữ lửa" ở Pác Bó vẫn miệt mài kể chuyện. Họ chính là những mảnh ghép không thể thiếu của một "Bảo tàng sống", nơi lịch sử không ngủ yên trong quá khứ mà luôn đồng hành, soi đường cho hiện tại và tương lai.