Đánh giá tác động của liên kết với doanh nghiệp nhà nước đến năng suất lao động của doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Nghiên cứu này đánh giá tác động của liên kết với DNNN đến năng suất lao động của doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam; phân biệt giữa liên kết ngược (mua đầu vào) và liên kết xuôi (bán sản phẩm cho DNNN). Kết quả nghiên cứu cho thấy, liên kết xuôi giúp tăng năng suất trong khi liên kết ngược không có tác động rõ rệt.

TS. Lê Th Ngc Bích

Học viện Tài chính

Email: ltbngoc@gmail.com

Tóm tắt

Những năm qua, quá trình cải cách khu vực kinh tế nhà nước diễn ra mạnh mẽ song doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn giữ vai trò quan trọng, nhất là trong các ngành trọng yếu của Việt Nam. DNNN không chỉ cung cấp hàng hóa thiết yếu, tạo nhiều việc làm mà còn có thể tác động tích cực đến khu vực kinh tế tư nhân thông qua các mối liên kết kinh tế. Nghiên cứu này đánh giá tác động của liên kết với DNNN đến năng suất lao động của doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam; phân biệt giữa liên kết ngược (mua đầu vào) và liên kết xuôi (bán sản phẩm cho DNNN). Phân tích trên bộ dữ liệu doanh nghiệp Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy, liên kết xuôi giúp tăng năng suất trong khi liên kết ngược không có tác động rõ rệt. Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất khuyến khích liên kết đầu ra giữa 2 thành phần kinh tế này nhằm thúc đẩy năng suất lao động khu vực kinh tế tư nhân.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, kinh tế

Summary

In recent years, the reform of the state-owned enterprise sector has advanced substantially; however, state-owned enterprises continue to play a crucial role, particularly in Viet Nam’s key industries. State-owned enterprises not only supply essential goods and generate significant employment but also have the potential to positively affect the private sector through economic linkages. This study examines the impact of linkages with state-owned enterprises on the labor productivity of private enterprises in Viet Nam, distinguishing between backward linkages (purchasing inputs) and forward linkages (selling products to state-owned enterprises). Using Vietnamese enterprise-level data, the findings reveal that forward linkages enhance productivity, while backward linkages show no significant effect. Based on these results, the author proposes several policy recommendations to encourage output linkages between these two economic sectors, fostering productivity growth in the private sector.

Keywords: State-owned enterprises, private enterprises, economy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế sâu rộng, Việt Nam cùng nhiều quốc gia đang phát triển coi doanh nghiệp như động lực then chốt cho tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất. Bên cạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân ngày càng năng động, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là trong các ngành then chốt như năng lượng, hạ tầng, ngân hàng. Sự tồn tại song song của DNNN và khu vực kinh tế tư nhân vừa mở ra cơ hội hợp tác, vừa đặt ra thách thức cho mục tiêu phát triển bền vững. Phần lớn nghiên cứu trước đây tập trung phản ánh hiệu ứng “lấn át” hay méo mó cạnh tranh do DNNN gây ra cho khu vực tư nhân. Trong khi đó, các mối liên kết thị trường theo chiều dọc (xuôi và ngược) giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Xuất phát từ khoảng trống này, nghiên cứu đặt ra các câu hỏi: (i) Liên kết với DNNN ảnh hưởng thế nào đến năng suất lao động (NSLĐ) của doanh nghiệp tư nhân? (ii) Liên kết xuôi (bán hàng cho DNNN) và liên kết ngược (mua đầu vào từ DNNN) có tác động khác biệt không? Nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ hợp tác giữa 2 khu vực và gợi mở chính sách nâng cao hiệu quả phối hợp công - tư trong phát triển.

TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tổng quan và phương pháp nghiên cứu

Tổng quan nghiên cứu

Từ lâu, DNNN được xem là nhân tố quan trọng song cũng gây tranh cãi. Nhiều nghiên cứu (Böwer, 2017; Cevik, 2019) chỉ ra rằng DNNN có thể lấn át đầu tư tư nhân, làm méo mó phân bổ nguồn lực do tiếp cận tín dụng và ưu đãi chính sách vượt trội. Các hạn chế về quản trị, trách nhiệm giải trình yếu kém càng làm gia tăng gánh nặng cho khu vực tư nhân khi chia sẻ không gian thị trường.

Ngoài tác động tiêu cực tới thị trường và doanh nghiệp tư nhân, DNNN được nhận định là vẫn có thể mang lại tác động tích cực cho nền kinh tế, đặc biệt là thông qua mối quan hệ đối tác giữa 2 thành phần kinh tế. Khi doanh nghiệp tư nhân cung cấp đầu vào cho DNNN (liên kết xuôi), mối liên kết này giúp doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đơn hàng quy mô lớn, ổn định, yêu cầu kỹ thuật cao, từ đó nâng cấp quy trình sản xuất, học hỏi công nghệ và tăng năng suất. Ngược lại, liên kết ngược (khi doanh nghiệp tư nhân mua hàng từ DNNN) cũng có thể là kênh tiếp cận công nghệ, đầu vào chất lượng cao của doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên, những bằng chứng khoa học của mối quan hệ này vẫn còn hạn chế với rất ít các doanh nghiệp phân tích và phân biệt tác động của 2 hình thức liên kết này với DNNN với doanh nghiệp tư nhân.

Phương pháp và dữ liu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2012-2018, kết hợp từ Khảo sát Doanh nghiệp Việt Nam,

Mô hình phân tích định lượng mô hình ước lượng của doanh nghiệp i hoạt động tại địa phương j vào năm t được xác định như sau:

Trong đó: NSLĐijt là năng suất của doanh nghiệp i tại thời điểm t, được đo bằng năng suất lao động - tức là sản lượng bình quân đầu người lao động. Theo Monreal-Pérez và cộng sự (2012), năng suất của doanh nghiệp tư nhân được đo bằng NSLĐ - tức là sản lượng bình quân đầu người lao động. Sản lượng có thể đại diện bởi giá trị gia tăng, doanh thu bán hàng hoặc lợi nhuận gộp. Tuy nhiên, do hạn chế dữ liệu về lợi nhuận gộp và giá trị gia tăng, nghiên cứu này sử dụng doanh thu bán hàng để tính NSLĐ (Reddy và cộng sự, 2021). Doanh thu danh nghĩa được điều chỉnh theo chỉ số giảm phát GDP hằng năm và biến năng suất lao động được lấy theo logarit tự nhiên.

LIEN KETi,j,t thể hiện tình trạng liên kết của doanh nghiệp với DNNN ở năm t-1. Việc sử dụng biến trễ giúp hạn chế vấn đề nhân quả ngược và phản ánh thực tế rằng tác động của liên kết với DNNN có thể phát huy sau một khoảng thời gian. Liên kết với DNNN được phân thành liên kết xuôi (SOE_forlink) và liên kết ngược (SOE_backlink). Cụ thể, doanh nghiệp tư nhân có liên kết ngược nếu mua đầu vào từ DNNN và có liên kết xuôi nếu bán sản phẩm cho DNNN.

Xijt là vector các biến kiểm soát đặc điểm doanh nghiệp, bao gồm: quy mô doanh nghiệp (size) - được đo bằng logarit tự nhiên tổng số lao động của doanh nghiệp; tuổi doanh nghiệp (age) - đo bằng logarit tự nhiên số năm hoạt động (Calza và cộng sự, 2019), tỉ lệ vốn trên lao động (lnkl), đo bằng logarit tự nhiên của tỷ lệ vốn/lao động. Ngoài ra, mô hình còn kiểm soát loại hình sở hữu, năm và ngành bằng các biến giả để loại trừ các ảnh hưởng cố định tương ứng (Ni và cộng sự., 2017).

Nghiên cứu sử dụng đồng thời mô hình hiệu ứng cố định (FE) và mô hình FE kết hợp với biến công cụ để kiểm soát hiện tượng nội sinh trong mô hình.

Dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp từ 3 nguồn: (i) Khảo sát Doanh nghiệp Việt Nam hàng năm, (ii) Khảo sát Công nghệ và Năng lực Cạnh tranh Doanh nghiệp Việt Nam.

Khảo sát Doanh nghiệp Việt Nam, do Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính) thực hiện hằng năm, cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm doanh nghiệp như lĩnh vực hoạt động, quy mô lao động, vốn, loại hình sở hữu và số năm hoạt động. Bộ dữ liệu thứ hai là khảo sát công nghệ và năng lực cạnh tranh, bổ sung thông tin về các mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng, trong đó có tình trạng liên kết với DNNN. Hai bộ dữ liệu này được ghép với nhau qua mã số thuế doanh nghiệp (Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Phân tích trên bộ dữ liệu doanh nghiệp rút ra những kết quả như sau:

Thứ nhất, liên kết với DNNN nhìn chung giúp nâng cao NSLĐ của doanh nghiệp tư nhân. Kết quả cho thấy doanh nghiệp có liên kết với DNNN có NSLĐ cao hơn so với nhóm không có liên kết, với ý nghĩa thống kê rõ rệt. Kết quả phân tích hồi quy với các phương pháp ước lượng khác nhau đều cho thấy liên kết với DNNN nhìn chung có tác động tích cực đến năng suất lao động của doanh nghiệp tư nhân. Cụ thể, khi sử dụng mô hình hiệu ứng cố định (FE), biến Liên kết có hệ số 0.045 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Trong khi đó, khi kiểm soát vấn đề nội sinh bằng biến công cụ kết hợp với mô hình FE, hệ số của biến này tăng lên 0.093 và vẫn duy trì ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Kết quả này củng cố bằng chứng rằng mối quan hệ hợp tác với DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động của khu vực tư nhân.

Thứ hai, khi phân biệt liên kết với DNNN thành 2 hình thức là liên kết ngược và liên kết xuôi, kết quả sử dụng cả 2 phương pháp đều cho thấy liên kết xuôi có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê, trong khi liên kết ngược hầu như không có tác động. Cụ thể, với phương pháp FE, biến LK_xuôi có hệ số 0.040 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (t = 2.83), trong khi biến LK_ngược chỉ đạt hệ số 0.014 và không có ý nghĩa thống kê (t = 0.41). Khi kiểm soát nội sinh bằng biến công cụ kết hợp với mô hình FE, kết quả càng rõ rệt hơn: LK_xuôi có hệ số 0.093, ý nghĩa ở mức 5% (t = 2.11), còn LK_ngược gần như bằng không (0.004) và hoàn toàn không ý nghĩa (t = 0.03). Điều này chỉ ra rằng tác động tích cực chủ yếu đến từ hình thức liên kết xuôi, tức doanh nghiệp tư nhân cung cấp đầu vào cho DNNN.

Tác động tích cực của liên kết xuôi tới NSLĐ của doanh nghiệp tư nhân có thể lý giải là do khi trở thành nhà cung cấp cho DNNN, doanh nghiệp tư nhân thường được tiếp cận những hợp đồng lớn, ổn định và có tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn. Điều này tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô sản xuất, tận dụng lợi thế theo quy mô để nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp tư nhân cải thiện quy trình sản xuất, áp dụng công nghệ mới và tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt hơn, từ đó nâng cao NSLĐ.

Ngược lại, kết quả cho thấy liên kết ngược, tức doanh nghiệp tư nhân mua hàng từ DNNN, không có tác động ý nghĩa đến NSLĐ có thể được lý giải bởi đặc điểm chuỗi cung ứng và vai trò chi phối của khu vực nhà nước ở Việt Nam. Trong nhiều ngành then chốt như điện, than, dầu khí hay một số nguyên liệu đầu vào cơ bản, các doanh nghiệp tư nhân thường không có nhiều lựa chọn khác ngoài việc mua từ các DNNN giữ vị trí độc quyền hoặc chi phối thị trường. Mối quan hệ này chủ yếu mang tính giao dịch bắt buộc, thiếu tính hợp tác chiến lược, không đi kèm các cam kết chuyển giao công nghệ hay hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất cho bên mua. Hơn nữa, việc phụ thuộc vào nguồn đầu vào từ DNNN cũng tiềm ẩn rủi ro về chi phí, tiến độ và chất lượng, thậm chí có thể phát sinh những thủ tục phức tạp, làm triệt tiêu các hiệu quả tích cực khác. Vì vậy, khác với liên kết xuôi vốn buộc doanh nghiệp tư nhân phải nâng cấp quy trình sản xuất để đáp ứng tiêu chuẩn đầu ra cho DNNN, hình thức liên kết ngược hầu như không tạo ra động lực đổi mới hay cải thiện năng suất, phản ánh đúng thực trạng rằng mối quan hệ này về bản

Bng: Tác động ca liên kết với DNNN đến năng sut lao động của doanh nghip tư nhân

FE

FE- IV

(1)

(2)

(3)

(4)

Liên kết

0.045***

(3.22)

LK_ngược

0.014

(0.41)

LK_ xuôi

0.040***

(2.83)

IV_Liên kết

0.093**

(2.19)

IV_LK_ngược

0.004

(0.03)

IV_LK_xuôi

0.093**

(2.11)

lnkl

0.532***

0.532***

0.540***

0.540***

(61.36)

(61.39)

(62.98)

(62.99)

Quy mô

0.167***

0.167***

0.171***

0.171***

(18.52)

(18.53)

(19.26)

(19.26)

Tuổi

0.018

0.018

0.017

0.017

(1.04)

(1.04)

(1.01)

(1.01)

Biến giả loại hình doanh nghiệp

Biến giả năm

Biến giả ngành

Hằng số

-5.779***

-5.775***

-6.110***

-6.096***

(-8.02)

(-8.01)

(-8.52)

(-8.50)

Số quan sát

17467

17467

17467

17467

Ghi chú: Giá trị z được ghi trong ngoặc đơn; *,** , *** lần lượt biểu thị mức ý nghĩa thống kê p

Nguồn: Phân tích của tác giả

KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị chính sách như sau:

Khuyến khích liên kết xuôi: Nhà nước cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu vào chuỗi cung ứng đầu ra cho DNNN thông qua các hợp đồng dài hạn, tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng, cơ chế chuyển giao công nghệ và đào tạo. Chính sách này sẽ giúp doanh nghiệp tư nhân không chỉ có nguồn đầu ra sản phẩm ổn định mà còn có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại từ các DNNN lớn, hạn chế những bất lợi của mình, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và NSLĐ.

Hạn chế sự phụ thuộc thụ động: Kết quả cho thấy liên kết ngược tức là khi doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò là người mua hàng từ DNNN từ mối liên kết này không có tác động gì tới doanh nghiệp tư nhân. Cần giảm bớt tính độc quyền hoặc vị thế chi phối của DNNN ở các đầu vào thiết yếu, khuyến khích đa dạng hóa nguồn cung đầu vào để tăng quyền lựa chọn cho doanh nghiệp tư nhân.

Khuyến khích hợp tác công - tư bền vững: Phát triển các chính sách khuyến khích liên kết chuỗi giá trị giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân, gắn với mục tiêu đổi mới sáng tạo, công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải thiện môi trường thể chế, giảm chi phí thủ tục, nâng cao năng lực quản lý và tính minh bạch ở địa phương để các liên kết giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân thực sự hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của khu vực tư nhân.

Tài liu tham kho:

1. Böwer, U. (2017). State-Owned Enterprises in Emerging Europe: The Good, the Bad, and the Ugly. , (221). https://doi.org/10.5089/9781484315163.001.A001

2. Calza, E., Goedhuys, M., & Trifković, N. (2019). Drivers of productivity in Vietnamese SMEs: The role of management standards and innovation. Economics of Innovation and New Technology, 28(1), 23-44. https://doi.org/10.1080/10438599.2018.1423765

3. Cevik, S. (2019). You Are Suffocating Me! Firm-Level Evidence on Crowding Out. , (080). https://doi.org/10.5089/9781498311090.001.A001

4. Ni, B., Spatareanu, M., Manole, V., Otsuki, T., & Yamada, H. (2017). The origin of FDI and domestic firms’ productivity - Evidence from Vietnam. Journal of Asian Economics, 52, 56-76. https://doi.org/10.1016/j.asieco.2017.08.004

5. Reddy, K., Chundakkadan, R., & Sasidharan, S. (2021). Firm innovation and global value chain participation. Small Business Economics, 57(4), 1995-2015. https://doi.org/10.1007/s11187-020-00391-3.

Ngày nhận bài: 17/7/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/8/2025; Ngày duyệt đăng: 28/8/2025