Thịt nhập siêu rẻ: Làm sao tránh 'biến' thành đặc sản như Hải Sapa?

Từ vụ Hải Sapa biến thịt nhập thành đặc sản Tây Bắc, sự bùng nổ của thịt ngoại đang đặt ra yêu cầu về khâu hậu kiểm, minh bạch nguồn gốc để bảo vệ người tiêu dùng.
Làn sóng thịt nhập siêu rẻ: Minh bạch thị trường từ bài học Hải Sapa - Ảnh 1.

Tủ thịt heo trong nước được bày bán tại các siêu thị - Ảnh: T.N.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, các chuyên gia ngành chăn nuôi phân tích thực tế và nêu nhiều kiến nghị nhằm cải thiện chất lượng và an toàn thực phẩm.

Tăng cường hậu kiểm thịt nhập

Ông Nguyễn Kim Đoán, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, cho rằng để bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ tình trạng dịch bệnh và các cơ sở giết mổ lậu.

Đồng thời ngành nông nghiệp trong nước cần hướng tới mở rộng quy mô lớn và ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ để đủ sức cạnh tranh từ thức ăn chăn nuôi đến giá trị thịt tươi nóng của Việt Nam so với thịt ngoại nhập.

Làn sóng thịt nhập siêu rẻ: Minh bạch thị trường từ bài học Hải Sapa - Ảnh 2.

Khách hàng đang khảo sát giá các loại thịt nhập khẩu - Ảnh: T.N.

TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, cho biết Luật An toàn thực phẩm của chúng ta đã quy định phải minh bạch nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, sản phẩm, vấn đề là quản lý, thực thi, tổ chức thực hiện làm sao để thực sự minh bạch.

Nếu thịt nhập khẩu giá rẻ được đưa về rồi "biến hóa" thành các sản phẩm có giá trị cao, bán như đặc sản trong nước, người tiêu dùng có thể bị đánh lừa, người chăn nuôi trong nước chịu bất lợi trong cạnh tranh, còn Nhà nước có nguy cơ thất thu thuế. Vì vậy, không nên chỉ tập trung vào việc sửa luật mà cần làm tốt khâu thực thi.

Theo đó, cần tăng cường hàng rào kỹ thuật, kiểm tra và đặc biệt là hậu kiểm. Không thể chỉ kiểm soát ở thời điểm doanh nghiệp đăng ký hoặc nhập khẩu lô hàng đầu tiên, bởi một lô hàng có thể đáp ứng yêu cầu nhưng những lô tiếp theo chưa chắc bảo đảm chất lượng như công bố.

Cơ quan quản lý cần đánh giá, phân loại những nhóm sản phẩm có nguy cơ cao để tập trung kiểm tra, như thịt trâu, bò giá rẻ, phủ tạng, gà loại thải, thịt đông lạnh cận hạn sử dụng... Đặc biệt, cần kiểm soát nguy cơ nhập sản phẩm giá thấp rồi làm giả nguồn gốc, "nâng giá trị" để bán với giá cao trên thị trường.

Làn sóng thịt nhập siêu rẻ: Minh bạch thị trường từ bài học Hải Sapa - Ảnh 3.

Chuyên gia cho rằng cơ quan quản lý cần đánh giá, phân loại những nhóm sản phẩm có nguy cơ cao để tập trung kiểm tra - Ảnh: T.N.

Ngoài ra, cần tăng cường thông tin để người tiêu dùng hiểu rõ hơn về nguồn gốc, chất lượng và giá trị dinh dưỡng của từng loại thực phẩm, từ đó lựa chọn sản phẩm an toàn, có xuất xứ rõ ràng. Khi người tiêu dùng chủ động lựa chọn và những sản phẩm không minh bạch khó tiêu thụ, sẽ góp phần hạn chế gian lận trên thị trường.

Để giảm giá thành chăn nuôi trong nước, qua đó nâng sức cạnh tranh với thịt nhập khẩu giá rẻ, ông Dương cho rằng trước hết Nhà nước cần tiếp tục rà soát, cắt giảm những thủ tục hành chính và điều kiện sản xuất, kinh doanh không cần thiết, qua đó giảm chi phí cho doanh nghiệp và người chăn nuôi.

Về phía người chăn nuôi, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất theo chuỗi khép kín, tuần hoàn để tiết giảm chi phí và nâng hiệu quả sản xuất. 

Trong cơ cấu giá thành chăn nuôi, thức ăn chiếm khoảng 65-70%, trong khi nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, vì vậy cần tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước. 

Với nguyên liệu phải nhập khẩu, cần giảm chi phí logistics, chi phí tuân thủ và các khoản chi phí phát sinh trong quá trình kiểm tra tại cửa khẩu. Mục tiêu là từng bước đưa giá thành sản phẩm chăn nuôi trong nước xuống mức cạnh tranh với các nước có ngành chăn nuôi phát triển trong khu vực.

Bên cạnh giảm chi phí sản xuất, chúng ta cũng cần thay đổi thói quen tiêu dùng, chuyển dần từ thịt nóng, thịt đông lạnh sang thịt mát. Đây vừa là hướng nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm chăn nuôi trong nước, vừa góp phần tạo thị trường cho sản phẩm nội địa và giảm sức ép từ thịt đông lạnh nhập khẩu.

Ngành chăn nuôi nên cạnh tranh bằng thịt tươi

Theo TS Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM, giải pháp kinh tế phù hợp không phải là cố tự chủ sản xuất toàn bộ thức ăn chăn nuôi, mà là giảm chi phí trên một kilôgam thịt thông qua tăng năng suất, tận dụng nguyên liệu trong nước có lợi thế, tạo quy mô mua hàng, kiểm soát dịch bệnh và rút ngắn chuỗi cung ứng.

Làn sóng thịt nhập siêu rẻ: Minh bạch thị trường từ bài học Hải Sapa - Ảnh 4.

Một số giải pháp được chuyên gia đưa ra - Ảnh: T.N. (có dùng AI)

Đồng thời, ngành chăn nuôi trong nước nên cạnh tranh bằng thịt tươi, an toàn, truy xuất được nguồn gốc thay vì chỉ cố cạnh tranh trực tiếp về giá với mọi loại thịt đông lạnh nhập khẩu.

Ngoài ra, cần thận trọng khi nói thịt nhập khẩu "rẻ bằng một nửa", nhiều mặt hàng nhập là thịt đông lạnh, phần thịt ít được ưa chuộng hoặc phụ phẩm, trong khi giá thịt trong nước thường là thịt tươi và đã bao gồm chi phí giết mổ, phân phối. 

Ví dụ, thịt gà nhập khẩu năm 2026 chủ yếu là đùi, cánh, chân và một số phụ phẩm, có giá thấp hơn khoảng 40-50% so với gà công nghiệp trong nước.

Theo TS Thắng, về kinh tế, nên giảm chi phí theo các hướng tối ưu hóa kỹ thuật và dinh dưỡng, tận dụng nguyên liệu nội địa, chính sách hỗ trợ và liên kết chuỗi giá trị, mô hình kinh tế hợp tác cho hộ nhỏ ví dụ như khuyến khích hộ chăn nuôi mua chung, bán chung (mua thức ăn, con giống, vắc xin số lượng lớn, thuê chung dịch vụ thú y và phương tiện vận chuyển) nhằm tạo lợi thế quy mô. Đồng thời hoàn thiện hạ tầng logistics và tài chính cho người chăn nuôi.

Việt Nam từng đề xuất giảm thuế nhập khẩu ngô từ 5% xuống 3% để hạ giá đầu vào. Biện pháp này có thể giúp trong ngắn hạn nhưng cần đi kèm cơ chế bảo đảm phần giảm thuế thực sự được chuyển thành giá thức ăn thấp hơn cho người nuôi.

Do chưa thể thay thế hoàn toàn nguyên liệu nhập khẩu, cần giảm rủi ro bằng cách: Đa dạng hóa nguồn cung, tránh lệ thuộc vào một hoặc hai quốc gia; Ký hợp đồng mua hàng dài hạn; Dự trữ thương mại khi giá thế giới thấp; Sử dụng công cụ phòng ngừa biến động giá và tỉ giá; Công bố thường xuyên giá nhập khẩu, tồn kho và giá bán thức ăn; Tăng cạnh tranh, giám sát hành vi liên kết giá trên thị trường thức ăn chăn nuôi.

Muốn cạnh tranh bền vững, ngành chăn nuôi Việt Nam không chỉ cần hạ giá thành, mà phải xây dựng một cơ chế giúp người nuôi không bị phá sản sau mỗi đợt dịch bệnh hay biến động giá. Trọng tâm là chuyển từ chính sách "hỗ trợ sau thiệt hại" sang phòng ngừa, chia sẻ rủi ro và liên kết chuỗi.

Làn sóng thịt nhập siêu rẻ: Minh bạch thị trường từ bài học Hải Sapa - Ảnh 5.

Giá một số khay thịt nhập khẩu chỉ từ 26.000 đồng - Ảnh: T.N.

Năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi không được đo bằng việc sản xuất nhiều nhất, mà bằng khả năng tạo ra một kilôgam sản phẩm với chi phí thấp, ít dịch bệnh, chất lượng đồng đều và đầu ra ổn định.

Mô hình phù hợp là hộ chăn nuôi chuyên nghiệp hoặc hợp tác xã kết nối doanh nghiệp chế biến, bảo hiểm, vùng an toàn dịch bệnh và dữ liệu thị trường minh bạch.

Thịt nhập hợp pháp, rủi ro có thể nằm ở hậu kiểm

Theo luật sư Đoàn Thị Hồng Linh, Đoàn luật sư TP.HCM, về mặt quy phạm pháp luật, Việt Nam đã có tương đối đầy đủ các tầng quy định kiểm soát từ điều kiện của cơ sở nước ngoài, kiểm dịch, kiểm tra an toàn thực phẩm cho đến quản lý hàng hóa khi lưu thông.

Đối với các quy định về kiểm dịch, hiện nay tại Điều 44 Luật Thú y 2015 quy định:

Với sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu: sản phẩm phải có nguồn gốc từ động vật đáp ứng yêu cầu về an toàn dịch bệnh; có giấy chứng nhận kiểm dịch của cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y của Việt Nam và phải được giết mổ, sơ chế, chế biến tại cơ sở sản xuất đã đăng ký xuất khẩu vào Việt Nam.

Với thịt và các sản phẩm từ động vật trên cạn, tại Thông tư 01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định cụ thể danh mục sản phẩm phải kiểm dịch, đối tượng kiểm dịch cũng như trình tự, hồ sơ kiểm dịch đối với sản phẩm động vật nhập khẩu. Thịt động vật ở dạng tươi, ướp lạnh, đông lạnh thuộc nhóm sản phẩm động vật chịu sự quản lý kiểm dịch theo hệ thống quy định này.

Đối với các quy định về an toàn thực phẩm, Điều 38 Luật An toàn thực phẩm 2010 cũng quy định thực phẩm nhập khẩu phải đáp ứng các điều kiện an toàn tương ứng và thuộc diện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, trừ trường hợp được miễn theo quy định của Chính phủ. Điều 39 của luật này cũng cho phép áp dụng chế độ kiểm tra giảm đối với một số trường hợp đáp ứng điều kiện pháp luật.

Vì vậy, vấn đề cần phải quan tâm hơn hết nằm ở khâu hậu kiểm và khả năng truy xuất nguyên liệu sau thông quan. Sau khi thịt được rã đông, chia nhỏ, chế biến thành món ăn hoặc sản phẩm mới thì người tiêu dùng cuối cùng rất khó tự nhận biết nguồn gốc ban đầu.

Như vậy, một lô thịt có thể nhập khẩu hoàn toàn hợp pháp nhưng sau đó được chia nhỏ, chế biến, đổi tên thương mại hoặc quảng cáo sai về nguồn gốc, vậy thì rủi ro quản lý thực tế có thể không phải ở cửa khẩu mà là ở khâu hậu kiểm sau đó.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề