Hát Hố là gì mà vào danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể?

Hát Hố là lối hát đối đáp dân gian độc đáo của Quảng Ngãi vừa được bổ sung vào danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh. Loại hình này đang mai một, còn rất ít người biết hát.
Hát Hố là gì mà vào danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể? - Ảnh 1.

Hát Hố là loại hình hát đối đáp dân gian đặc trưng của Quảng Ngãi - Ảnh: TRẦN MAI (ảnh minh họa)

Hát Hố với nhiều người là cái tên còn xa lạ, thậm chí dễ nhầm với nghệ thuật bài chòi. Thực tế, đây là một hình thức dân ca đối đáp riêng, từng gắn bó với đời sống lao động và sinh hoạt của người bình dân Quảng Ngãi xưa.

Không chỉ là lời ca giải trí

Theo tiến sĩ văn hóa Nguyễn Đăng Vũ (nguyên Giám đốc Sở Văn Hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi), những tư liệu về Hát Hố cho thấy loại hình này thường xuất hiện trong những buổi giã gạo, cấy lúa, làm đồng hoặc các cuộc gặp gỡ, giao lưu trong làng. 

Người tham gia chia thành hai bên, thường là nam và nữ, lần lượt cất lời hát đối đáp. Có khi họ sử dụng những câu ca quen thuộc, có khi ứng tác ngay tại chỗ để đáp lại lời của bên kia.

"Hát Hố không chỉ là lời ca giải trí. Nội dung những câu hát thường xoay quanh tình cảm đôi lứa, tình người, cách đối nhân xử thế, tình yêu quê hương và cuộc sống thường ngày. 

Bởi vậy, loại hình này còn được gọi là hát nhơn ngãi, tức hát về tình nghĩa, nhân nghĩa", ông Vũ nói.

Một nét đặc biệt của Hát Hố là mối liên hệ với công việc giã gạo. Chiếc cối, chiếc chày vốn là dụng cụ lao động cũng trở thành nhạc cụ tạo nhịp cho câu hát. Tiếng chày giã gạo hòa cùng tiếng xô và những câu hát đối đáp tạo nên một không gian sinh hoạt cộng đồng đặc trưng.

Hát Hố là đặc trưng của Quảng Ngãi

Tên gọi Hát Hố được lý giải từ những tiếng đệm, tiếng xướng thường xuất hiện ở cuối câu hát như "hố hợi hò khoan", "là hò hố khoan". Trong đó có những nhịp điệu khác nhau như hò nhịp hai, hò nhịp bốn, hò nhịp trùng.

Qua những câu hát mộc mạc, người xưa vừa chia sẻ công việc, vừa gửi gắm tình cảm và tạo nên sự gắn kết trong cộng đồng.

Tuy nhiên, khi những hình thức lao động thủ công dần thay đổi, không gian diễn xướng Hát Hố cũng ngày càng thu hẹp. Những cuộc giã gạo tập thể thưa vắng rồi gần như không còn. Theo tư liệu về loại hình này, hoạt động Hát Hố trong những buổi giã gạo đã chấm dứt từ cuối thập niên 1960.

"Trước kia tôi có đi điền dã, nghiên cứu loại hình này, thì thấy số người còn biết Hát Hố rất ít và đã cao tuổi. Cần tìm hiểu kỹ và tổ chức các lớp giảng dạy ở cộng đồng để lưu giữ loại hình văn hóa dân gian này", ông Vũ nói và cho biết Hát Hố là đặc trưng của Quảng Ngãi, hoàn toàn khác với hát Bài Chòi.

Nghệ nhân nhân dân Trịnh Công Sơn, người sinh ra trong gia đình có truyền thống Hát Hố ở vùng Đức Nhuận, từng được cha mẹ truyền dạy loại hình này. Ông cũng là người sưu tầm, lưu giữ những câu hát còn sót lại.

Việc Hát Hố được bổ sung vào danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh là cơ sở để tiếp tục nhận diện, tư liệu hóa và có hướng bảo tồn loại hình dân ca đang đứng trước nguy cơ mai một này.

Bổ sung Hát Hố và 6 di sản vào danh mục kiểm kê văn hóa phi vật thể

Theo quyết định của UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành ngày 18-10-2026, tỉnh bổ sung 7 di sản vào danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, gồm: Nghệ thuật Hát Hố;

Nghệ thuật hát ru của người Kinh tại Lý Sơn; Tri thức trồng và chế biến quế của người Cor; Lễ hội miếu Bà Ngũ Hành (lễ hội hoa đăng); Tri thức nghề trồng rau; Tri thức dân gian về đẽo thuyền độc mộc; Nghệ thuật chế tác và trình diễn sáo đất (Tà Vỗ/Tà Vố) của người Hrê.

Sau đợt bổ sung, danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh có 47 di sản. Đồng thời, tỉnh cập nhật thông tin đối với 40 di sản đã có trong danh mục. Việc bổ sung vào danh mục kiểm kê là bước nhận diện, thống kê và tư liệu hóa di sản.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề