Giữ chân vốn ngoại: Cần công cụ phòng vệ tỉ giá?

Từ đầu năm đến nay, nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng hơn 75.000 tỉ đồng trên thị trường chứng khoán. Có nhiều lý do, trong đó có yếu tố tỉ giá neo ở mức cao, làm thu hẹp lợi nhuận khi quy đổi sang ngoại tệ.
tỉ giá - Ảnh 1.

Khi nhà đầu tư ngoại vào thị trường chứng khoán Việt Nam, điều họ quan tâm là khi chuyển lợi nhuận về nước là VND đổi sang USD được bao nhiêu - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Khi thị trường được nâng hạng, điều quan tâm không chỉ là khả năng thu hút dòng vốn mới, mà còn là những điều kiện níu giữ dòng vốn ở lại lâu hơn.

Để hút vốn quay trở lại, giới phân tích cho rằng ngoài việc cải thiện chất lượng hàng hóa, cải thiện khung pháp lý thì cần giải quyết bài toán phòng vệ rủi ro tỉ giá cho nhà đầu tư gián tiếp.

Nhiều lý do khiến khối ngoại bán ròng liên tục

Theo bộ phận phân tích Chứng khoán NH Việt Nam (NHS), lũy kế hết tháng 5-2026, khối ngoại tiếp tục bán ròng mức rất cao trong lịch sử ngành chứng khoán và tiếp nối xu hướng bán ròng bốn năm qua. Hoạt động bán ròng này chủ yếu xuất phát từ sự kết hợp của nhiều yếu tố mang tính vĩ mô và cấu trúc.

Trước hết, áp lực tỉ giá gia tăng do chênh lệch lãi suất giữa USD và VND khiến đồng nội tệ chịu sức ép, buộc các quỹ ngoại phải giảm tỉ trọng để hạn chế rủi ro tỉ giá - NHS nhận định.

Tiếp đến trong bối cảnh bất ổn toàn cầu gia tăng, các quỹ đầu tư có xu hướng tái phân bổ danh mục trên phạm vi quốc tế.

Dòng tiền đang luân chuyển sang các thị trường phát triển hoặc các quốc gia có lợi thế trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI) như Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hàn Quốc nhằm tìm kiếm tỉ suất sinh lời tối ưu hơn.

Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam còn hạn chế về "rổ hàng", thiếu các doanh nghiệp quy mô lớn và đa dạng ngành nghề (75% trong top 20 doanh nghiệp lãi lớn nhất năm 2025 là ngân hàng và bất động sản) khiến khả năng thu hút và giữ chân dòng vốn ngoại chưa cao - NHS cho biết.

Bên cạnh đó một yếu tố khác mang tính kỹ thuật là việc các quỹ đầu tư theo phân loại thị trường đang cơ cấu lại danh mục trước thềm nâng hạng, dẫn đến dòng vốn từ nhóm quỹ cận biên rút ra trước khi dòng tiền từ nhóm thị trường mới nổi tham gia.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC), cho rằng cần nhìn thẳng vào thực tế là nhà đầu tư nước ngoài đã rút ròng kỷ lục.

Để thu hút họ quay lại, các ưu tiên được nhắc đến là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, cải thiện chất lượng và quy mô hàng hóa, cùng với giải quyết bài toán phòng vệ rủi ro tỉ giá cho nhà đầu tư gián tiếp.

Theo ông Nguyễn Sơn, nếu không có cơ chế phòng vệ tỉ giá hiệu quả, rất khó để giữ chân dòng vốn ngoại lâu dài.

Cần thêm công cụ phòng vệ tỉ giá

Trao đổi với Tuổi Trẻ, một lãnh đạo ngành chứng khoán cho biết khi tham gia thị trường vốn Việt Nam, các nhà đầu tư ngoại buộc phải chuyển đổi ngoại tệ sang đồng Việt Nam và đối mặt với rủi ro biến động tỉ giá.

Tại một số thị trường, rủi ro này thường được quản trị thông qua các công cụ phái sinh tiền tệ như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hoặc hợp đồng quyền chọn.

Tuy nhiên tại Việt Nam, các công cụ phòng vệ tỉ giá này hiện chỉ được cung cấp qua hệ thống ngân hàng thương mại với các giao dịch thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa. Với dòng vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán, chưa có cơ chế cụ thể.

Vị này cũng cho biết việc xem cơ chế phòng vệ rủi ro tỉ giá là cần thiết. Song khi nói về hiện tượng bán ròng của khối ngoại thời gian qua, ông nói tỉ giá chỉ là một yếu tố.

Bởi tình trạng này diễn ra ngay cả khi tỉ giá không có biến động đáng kể. Ở thời điểm hiện tại, áp lực tỉ giá cũng được đánh giá chưa ở mức căng thẳng.

Ông Võ Kim Phụng - Trưởng phòng phân tích Chứng khoán BETA, cho biết để nâng cao sức hấp dẫn của thị trường và thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài dài hạn, cơ quan quản lý có thể xem xét triển khai lộ trình phát triển các công cụ phòng vệ rủi ro tỉ giá từng bước và phù hợp với mức độ phát triển của thị trường ngoại hối và năng lực giám sát.

Trong giai đoạn đầu, có thể mở rộng phạm vi sử dụng các hợp đồng ngoại hối kỳ hạn và hoán đổi ngoại hối cho các nhà đầu tư nước ngoài có danh mục đầu tư đã đăng ký, với giá trị phòng vệ không vượt quá quy mô tài sản đầu tư thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu quản trị rủi ro chính đáng.

Kế tiếp, Việt Nam có thể nghiên cứu phát triển thị trường hợp đồng kỳ hạn không giao nhận (NDF) và hợp đồng tương lai USD/VND với cơ chế thanh toán bằng chênh lệch, qua đó giúp nhà đầu tư phòng vệ tỉ giá mà không tạo áp lực lên nhu cầu giao nhận ngoại tệ thực tế hay dự trữ ngoại hối quốc gia.

Song song với việc đa dạng hóa sản phẩm, ông Phụng cho rằng cần khuyến khích các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính đóng vai trò tạo lập thị trường, nâng cao thanh khoản và giảm chi phí giao dịch phòng vệ.

Tuy nhiên ông Phụng cũng cũng lưu ý việc phòng ngừa/hạn chế nguy cơ đầu cơ tỉ giá và bảo đảm an toàn cho dự trữ ngoại hối quốc gia.

Theo đó, chỉ cho phép nhà đầu tư thực hiện giao dịch phòng vệ trên cơ sở giá trị danh mục đầu tư đã đăng ký với quy mô không vượt quá giá trị tài sản ròng và thời hạn phù hợp với thời gian nắm giữ khoản đầu tư.

Đồng thời các giao dịch nên được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại được cấp phép, áp dụng cơ chế báo cáo, giám sát vị thế tập trung và giới hạn trạng thái ròng nhằm ngăn ngừa việc tạo lập các vị thế đầu cơ.

Nhập siêu lớn, theo dõi áp lực tỉ giá

Trong bối cảnh nhập siêu lên tới 13,8 tỉ USD sau 5 tháng, áp lực lạm phát tăng cao, nhiều dự báo cho rằng tỉ giá VND/USD sẽ ghi nhận biến động.

Song thực tế so với các đồng tiền trong khu vực như CNY, IDR, JPY..., VND vẫn duy trì được trạng thái ổn định từ đầu năm tới nay.

Ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty Dữ liệu kinh tế tài chính WiGroup, cho biết sự ổn định của tỉ giá trong giai đoạn vừa qua được hỗ trợ tích cực từ dòng tiền FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất tiệm cận dương giúp giữ chân dòng tiền.

Ngoài ra, thâm hụt vừa qua chủ yếu đến từ khối FDI khi họ đẩy mạnh nhập khẩu linh kiện điện tử, máy vi tính để tích trữ chip, RAM trước đà tăng giá, hoặc do chi phí nhập khẩu đang bị đội lên quá cao.

Khi cần ngoại tệ để thanh toán, nhiều doanh nghiệp FDI không mua USD tại thị trường trong nước mà sử dụng nguồn USD sẵn có của họ.

Ông Báu so sánh hiện tượng này với giai đoạn Việt Nam thặng dư thương mại lớn nhưng ngoại tệ không chảy về nước, nguyên nhân là do doanh nghiệp FDI ưu tiên giữ USD ở nước ngoài để hưởng mức lãi suất cao hơn thay vì đưa về Việt Nam chịu lãi suất thấp và rủi ro tỉ giá.

Tương tự, ở chiều ngược lại hiện nay, khi cần thanh toán lượng lớn hàng nhập khẩu, họ sẽ ưu tiên dùng chính nguồn ngoại tệ bên ngoài này để xử lý.

Thứ hai, ông Báu cũng lưu ý đến yếu tố độ trễ trong thanh toán quốc tế. Áp lực tỉ giá từ nhập siêu thường không phản ánh ngay tại thời điểm ghi nhận số liệu thương mại, mà có độ trễ khoảng một quý so với thời điểm các nghĩa vụ thanh toán thực sự phát sinh. Do đó, áp lực tỉ giá cần tiếp tục được theo dõi trong các tháng tới.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề