Có những vùng đất lớn lên từ lớp lớp phù sa bồi đắp qua hàng trăm năm, từ những mùa nước nổi và từ sự nhẫn nại của con người sống giữa bốn bề sông nước. Cù Lao Giêng (tỉnh An Giang) là một vùng đất như thế.

Sau sáp nhập đơn vị hành chính, xã Cù Lao Giêng hôm nay có diện tích tự nhiên gần 69km² với hơn 70.000 dân sinh sống hoàn toàn trên dải cù lao nằm giữa sông Tiền. Bốn bề sông nước vừa tạo nên vẻ biệt lập đặc trưng, vừa hình thành nên một không gian văn hóa, sinh kế và đời sống rất riêng của cư dân miền Tây Nam Bộ.
Hàng thế kỷ qua, dòng phù sa đỏ nặng từ thượng nguồn vẫn lặng lẽ bồi đắp cho vùng đất này những cánh đồng màu mỡ, những vườn cây trái sum suê và cả một nếp sống đặc trưng của cư dân miền sông nước. Nhưng nếu chỉ nhìn Cù Lao Giêng hôm nay qua những vườn xoài trĩu quả hay những tuyến đường bê tông rộng mở thì vẫn chưa đủ để kể hết câu chuyện của vùng đất này.
Bởi trước khi trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang, nơi đây từng là một xứ lúa nghèo giữa sông Tiền, nơi cuộc sống của nhiều thế hệ người dân gắn với ruộng đồng, mùa nước nổi và những chuyến xuồng ghe xuôi ngược theo con nước.

Người già ở Cù Lao Giêng vẫn nhớ rất rõ hình ảnh của những cánh đồng ngày trước. Khi ấy, quanh cù lao gần như là ruộng lúa nối tiếp nhau. Mùa nước nổi về, phù sa phủ lên mặt ruộng một lớp màu mỡ, người dân xuống giống rồi chờ ngày gặt hái. Nhà nào cũng sống nhờ đất. Có người làm thêm nghề chài lưới, bắt cá trên sông, nhưng cái gốc của cuộc sống vẫn là cây lúa.
Những buổi sáng trên cù lao ngày ấy bắt đầu bằng tiếng người gọi nhau ra đồng, mùi rơm mới, tiếng máy suốt lúa vọng giữa cánh đồng còn đẫm hơi sương. Cuộc sống tuy nghèo nhưng bình yên theo cách rất riêng của miền Tây.
Người dân khi đó không nghĩ nhiều đến những khái niệm lớn lao như phát triển hay hội nhập. Điều họ mong mỏi chỉ đơn giản là mùa màng đừng thất bát, nước đừng lên quá lớn và con cái có cơ hội học hành tốt hơn cha mẹ.

Ít ai biết rằng Cù Lao Giêng cũng là một trong những vùng đất được khai phá khá sớm ở Nam Bộ. Từ thế kỷ XVIII, khi những đoàn lưu dân người Việt theo hành trình Nam tiến xuôi về phương Nam mở cõi, vùng đất giữa sông Tiền này đã dần hình thành những xóm làng đầu tiên.
Khi ấy, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang sơ với lau sậy, rừng rậm và những bãi bồi ngập nước. Những cư dân đầu tiên chủ yếu đến từ miền Trung và miền Bắc, mang theo tập quán trồng lúa nước, đào mương, đắp bờ và dựng xóm làng ven sông. Họ sống nhờ phù sa, nhờ con nước và mở đất bằng chính đôi tay mình.

Suốt hàng trăm năm, phù sa sông Tiền không chỉ bồi đắp nên ruộng đồng màu mỡ mà còn tạo nên chiều sâu văn hóa rất riêng cho vùng cù lao này. Dòng họ Nguyễn Tộc ở Cù Lao Giêng đến nay vẫn gìn giữ tục thờ Ba quan thượng đẳng - những bậc tiền nhân được vua Gia Long truy phong danh hiệu cao quý để ghi nhận công lao mở đất và giữ gìn xóm làng.
Mảnh đất phù sa ấy cũng sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong đó có cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Hưởng - một trong những bác sĩ tiêu biểu của nền y học cách mạng Việt Nam, và cố Bộ trưởng Ung Văn Khiêm - nhà ngoại giao nổi bật trong giai đoạn đầu xây dựng nền ngoại giao cách mạng.
Người dân nơi đây vẫn nhắc về họ bằng niềm tự hào của một vùng đất nhỏ nhưng đã góp phần làm nên những con người mang tầm vóc quốc gia.


Điều đặc biệt của Cù Lao Giêng không chỉ nằm ở lịch sử khai phá hay những mùa trái ngọt, mà còn ở chiều sâu văn hóa hiếm nơi nào ở miền Tây còn giữ được nguyên vẹn như vậy.
Từ cuối thế kỷ XIX, các giáo sĩ phương Tây đã đến đây truyền giáo, xây dựng nhà thờ, trường học và bệnh viện.
Đến nay, Nhà thờ Cù Lao Giêng vẫn được xem là một trong những nhà thờ cổ kính nhất Nam Kỳ còn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc châu Âu cổ.
Mỗi buổi chiều, khi ánh nắng phủ xuống những bức tường vàng cũ kỹ và tiếng chuông ngân lên giữa hàng cây cổ thụ, không gian nơi đây khiến người ta có cảm giác như thời gian đang trôi chậm lại.

Nhưng Cù Lao Giêng không chỉ có Công giáo. Trên cùng một dải cù lao nhỏ, đình thần chùa chiềng và tín ngưỡng dân gian cùng tồn tại suốt hàng trăm năm như một phần tự nhiên của đời sống cộng đồng.
Chùa Ông Đạo Nằm gắn với câu chuyện tu hành khổ hạnh của Hòa thượng Tịnh Nghiêm, còn Chùa Chim gây ấn tượng với quần thể tượng Phật quy mô lớn giữa không gian sông nước thanh tịnh.
Không ngại đường xa, khách hành hương vẫn tìm về nơi này mỗi ngày. Anh Văn Thắng, một du khách đến từ Tân Châu, chia sẻ rằng đây đã là lần thứ ba anh đưa gia đình đến Cù Lao Giêng để cầu an và vãn cảnh.
"Không gian ở đây rất thanh tịnh, yên bình và có cảm giác khác hẳn nhiều nơi khác. Đến đây thấy lòng nhẹ lại", anh nói.


Không chỉ có chiều sâu văn hóa, Cù Lao Giêng còn đang mở ra hướng đi mới bằng du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Ở nơi này, thiên nhiên, kiến trúc và ký ức làng quê hòa quyện với nhau theo cách rất tự nhiên.
Khu du lịch sinh thái Cồn Én là một trong những điểm đến tiêu biểu. Không gian nơi đây tái hiện ký ức miền quê bằng chất liệu gỗ lũa, những mái nhà mộc mạc và cảnh quan gần như giữ nguyên vẻ nguyên sơ của vùng sông nước.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Yến, Giám đốc điều hành khu du lịch, cho biết đơn vị đang hướng đến mở rộng dịch vụ lưu trú, đầu tư thêm các hoạt động trải nghiệm để phục vụ khách quốc tế nhiều hơn trong thời gian tới.
Theo chị, du khách tìm đến Cù Lao Giêng không phải để tìm sự náo nhiệt mà để tìm sự bình yên, cảm giác được sống chậm giữa miền quê còn giữ nguyên bản sắc.
"Du lịch ở Cù Lao Giêng vì thế cũng không đi theo hướng đô thị hóa ồn ào. Người ta tìm đến nơi này vì những con đường nhỏ chạy dọc bờ sông, vì tiếng chuông chùa buổi chiều, vì những khu vườn xanh rợp bóng và vì cảm giác được trở về một miền Tây cũ kỹ nhưng đầy sức sống".


Dẫu vậy, gốc rễ của Cù Lao Giêng vẫn là nông nghiệp. Và sự chuyển mình lớn nhất của vùng đất này bắt đầu khi người dân nhận ra đất phù sa nơi đây đặc biệt phù hợp với cây xoài.
Ban đầu chỉ vài hộ chuyển đổi từ đất lúa sang cây ăn trái. Nhưng rồi từ những khu vườn nhỏ lẻ, cây xoài dần phủ xanh cả cù lao. Những cánh đồng lúa năm nào lần lượt nhường chỗ cho những vườn xoài trải dài đến tận mé sông.
Đến nay, Cù Lao Giêng đã trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang với gần 5.000ha. Trên hơn 4.300ha đất sản xuất, phần lớn diện tích hiện là cây ăn trái với nhiều vùng trồng được cấp mã số xuất khẩu và áp dụng tiêu chuẩn VietGAP.

Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng thành lập năm 2020 được xem là bước ngoặt lớn của nông nghiệp địa phương. Anh Nguyễn Minh Hiền – Chủ tịch HTX cho biết xoài Cù Lao Giêng có ưu thế nhờ thổ nhưỡng và khí hậu đặc biệt, giúp trái xoài có độ bóng đẹp và chất lượng cao hơn nhiều nơi khác.
"Từ trước tới nay, xoài Cù Lao Giêng luôn được thị trường đánh giá cao về mẫu mã và chất lượng. Khi làm theo quy trình VietGAP, GlobalGAP và có mã số vùng trồng, trái xoài đi được vào các thị trường khó tính hơn, đầu ra cũng ổn định hơn cho nông dân", anh Hiền nói.
Từ một vùng sản xuất nhỏ lẻ, xoài nơi đây giờ đã xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc, Úc và New Zealand. Hiện HTX có hơn 50 thành viên chính thức cùng hàng trăm hộ liên kết sản xuất theo quy trình tiêu chuẩn nhằm xây dựng sinh kế bền vững cho người dân.
Không chỉ có cây trái, nghề nuôi cá bè cũng phát triển mạnh với hơn 1.000 lồng bè nuôi cá tra và cá diêu hồng, cho sản lượng khoảng 3.600 tấn mỗi năm. Những bè cá nối dài trên sông cùng các vườn xoài xanh ngút mắt đang tạo nên diện mạo kinh tế mới cho vùng cù lao giữa sông Tiền.

Sự đổi thay ấy hiện diện rõ nhất trong cuộc sống của người dân. Ông Lê Ngọc Bia, năm nay 71 tuổi, vẫn nhớ những năm tháng vợ chồng ông phải bán bún tươi, bán trứng vịt để nuôi hai con ăn học.
"Ngày đó cực lắm, chỉ mong đủ tiền cho con học hết phổ thông", ông kể.
Giờ đây, con trai lớn của ông đã là giáo viên, người con út làm việc trong doanh nghiệp thủy sản, cuộc sống gia đình cũng ổn định hơn sau hàng chục năm chắt chiu từ đất.
Ông Phạm Văn Khang cũng từng bắt đầu chỉ với hai công ruộng, một chiếc xuồng nhỏ đánh cá và một con bò cái gây giống. Sau nhiều năm tích cóp, ông đã dựng được căn nhà mới khang trang bên con đường ven sông.
Những câu chuyện như vậy không hiếm ở Cù Lao Giêng, bởi sự đổi thay nơi đây không đến từ những dự án đồ sộ mà đến từ từng gia đình, từng khu vườn và từng mùa trái ngọt.


Suốt nhiều năm, yếu tố địa lý sông nước từng khiến Cù Lao Giêng gặp không ít khó khăn trong phát triển hạ tầng, y tế, giáo dục và đời sống dân sinh. Nhưng từ khi chính thức được công nhận là xã đảo của tỉnh An Giang, vùng đất này bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới.
Danh xưng "xã đảo" không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn mở ra nhiều cơ chế đặc thù về đầu tư giao thông, điện, nước sạch, trường học, y tế và an sinh xã hội. Người dân được hỗ trợ phát triển sản xuất, tiếp cận vốn ưu đãi và các chương trình giảm nghèo.
Đặc biệt, toàn bộ cư dân trên địa bàn được hỗ trợ 100% bảo hiểm y tế - một chính sách được người dân xem là rất thiết thực đối với một vùng còn nhiều lao động nông nghiệp và lao động tự do.

Theo ông Võ Minh Nâng – Bí thư Đảng uỷ xã Cù Lao Giêng, trong nhiệm kỳ 2025–2030, địa phương đặt mục tiêu phát triển toàn diện trên nền tảng kinh tế bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, Cù Lao Giêng sẽ lấy nông nghiệp công nghệ cao và đặc sản xoài làm trọng tâm, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng nông thôn mới hiện đại.


Chiều xuống trên sông Tiền, nắng cuối ngày phủ vàng những vườn xoài trải dài ven sông. Cuộc sống ở Cù Lao Giêng hôm nay đã khác rất nhiều so với thời chỉ sống bằng ruộng lúa và những mùa nước nổi. Đường sá rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn, người trẻ có thêm cơ hội học hành và làm ăn, du lịch bắt đầu tìm đến, nông nghiệp bước vào hành trình chuyển đổi mới.
Nhưng giữa tất cả những đổi thay ấy, vùng đất này vẫn giữ được điều quý nhất: tinh thần của một miền Tây sống nhờ phù sa, nhờ đất và nhờ sự bền bỉ của con người.
Và có lẽ, đó mới chính là vẻ đẹp sâu nhất của Cù Lao Giêng hôm nay - một xã đảo đang bước vào tương lai mới nhưng vẫn giữ nguyên hồn vía của miền sông nước Nam Bộ.
