Tái cơ cấu EVN, chuyên gia phân tích độ vênh giữa Bộ Công Thương và Bộ Tài chính

Nếu một phương án làm tăng rủi ro thiếu điện trong 3-4 năm tới thì cần điều chỉnh nhịp độ, kể cả khi phương án đó đúng. Vì vậy, từ nay đến 2028 nên dành thời gian đánh giá kỹ lưỡng thời điểm và điều kiện tách truyền tải khỏi EVN.

Giai đoạn 2027-2030, cung ứng điện được dự báo rất căng thẳng, theo ông Nguyễn Anh Tuấn - Ảnh: EVN

Trả lời Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam - cho rằng quan điểm tái cơ cấu thị trường điện và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được Bộ Công Thương và Bộ Tài chính đưa ra không khác nhau về mục tiêu, nhưng lại có sự khác nhau về thứ tự ưu tiên.

Bộ Công Thương nhìn từ yêu cầu cấu trúc thị trường: truyền tải là khâu độc quyền tự nhiên, nên phải độc lập với bên mua, bên bán điện thì cạnh tranh mới công bằng. 

Trong khi đó Bộ Tài chính nhìn từ rủi ro tài chính và an ninh cung ứng: nếu tách Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) khỏi EVN thì đơn vị này cần bổ sung khoảng 42.500 tỉ đồng vốn chủ sở hữu, và việc tái cơ cấu EVN có thể tác động đến một số hợp đồng BOT, nghĩa là phải có sự chấp thuận của chủ đầu tư và bên cho vay. Cả hai lo ngại đều có cơ sở, dù thực tiễn cho thấy tách bạch là xu hướng chung, nhưng cách làm rất khác nhau.

Cung ứng điện căng thẳng, cần bước đi thận trọng 

* Vậy theo ông, việc tái cơ cấu thị trường điện và tách các khối truyền tải, phân phối ra khỏi EVN cần được thực hiện thế nào?

- Cần đảm bảo ba nguyên tắc. Đó là nên “chốt” sớm mốc thời gian và điều kiện tách EVNNPT chứ không để ngỏ, vì nhà đầu tư cần sự chắc chắn về luật chơi hơn là cần tách sớm hay muộn. 

Trước khi tách phải giải xong các "điều kiện đầu vào": phương án bổ sung vốn cho truyền tải (có thể gồm vốn Nhà nước, phát hành trái phiếu hạ tầng hoặc cơ chế giá truyền tải hợp lý), đàm phán với các bên liên quan trong hợp đồng BOT và hợp đồng nhập khẩu điện, vì đây là các cam kết dài hạn đang gắn với tín nhiệm của cả ngành.

Điểm nữa, đó là khi chưa tách, phải có cơ chế ràng buộc để truyền tải đối xử bình đẳng với mọi nhà máy, ví dụ hạch toán độc lập, công bố công khai điều kiện đấu nối và công suất còn trống, đồng thời để một cơ quan độc lập giám sát. 

Cuối cùng, tái cơ cấu không phải mục tiêu tự thân. Giai đoạn 2027-2030, cung ứng điện được dự báo rất căng thẳng, nên mỗi bước đi phải được thử bằng câu hỏi "có làm chậm tiến độ nguồn, lưới hay không?".

Nếu một phương án làm tăng rủi ro thiếu điện trong 3-4 năm tới thì phải điều chỉnh nhịp độ, kể cả khi phương án đó đúng. Tôi cho rằng từ nay tới 2028 nên dành thời gian đánh giá kỹ lưỡng thời điểm và điều kiện tách truyền tải, lên kế hoạch thực hiện nếu đủ điều kiện.

* Bộ Công Thương cho rằng việc duy trì vai trò người mua duy nhất của EVN gây ra nhiều bất cập cho thị trường. Vậy theo ông, EVN nên được định vị thế nào?

Vai trò của EVN ra sao?

Cần nhìn EVN theo hướng đổi vai trò, chứ không phải thu nhỏ vai trò. Trong thị trường cạnh tranh, EVN nên tập trung vào những việc mà doanh nghiệp lớn, có hạ tầng và uy tín quốc gia làm tốt nhất: phát điện ở những nguồn then chốt, phân phối và bán lẻ, các nhiệm vụ công ích và dự phòng cho hệ thống. Ngược lại, EVN cần giảm dần vai trò mua điện tập trung và vai trò "trọng tài" đối với các nhà phát điện khác, vì đây chính là chỗ gây ra xung đột lợi ích.

Phương án Bộ Công Thương đề xuất là chuyển tiếp các hợp đồng mua bán điện do EVN ký sang các đơn vị mua buôn điện khác như các tổng công ty điện lực. Tôi đồng tình với hướng này, vì nhiều người mua sẽ giúp nhà đầu tư dễ đạt thỏa thuận hơn và tạo áp lực hiệu quả lên chi phí.

Tuy nhiên cần giải quyết ba vấn đề. Trước hết đó là năng lực của bên nhận hợp đồng. Các tổng công ty điện lực phải đủ vốn, đủ xếp hạng tín nhiệm và có đội ngũ quản trị rủi ro để ký và thực hiện các hợp đồng dài hạn, nếu không bên cho vay sẽ không chấp nhận. 

Thứ hai là sự đồng thuận của bên có hợp đồng: việc chuyển PPA không được làm xấu đi quyền lợi của nhà đầu tư đã ký, và cần có thỏa thuận ba bên để bảo toàn tính pháp lý. Thứ ba là cách phân bổ các hợp đồng "khó": các PPA giá cao, hợp đồng nhập khẩu, các nhà máy có nghĩa vụ đặc biệt. Nếu dồn hết vào một vài đơn vị thì các đơn vị đó sẽ không cạnh tranh nổi, nên cần cơ chế phân bổ hoặc bù đắp minh bạch.

Cải tổ EVN trong hệ thống điện: Bài học mất điện diện rộng ở Texas, dân nhận hóa đơn 16.000 USD - Ảnh 4.

Vai trò của EVN trong hệ thống điện sẽ được xác lập ra sao? - Ảnh: NAM TRẦN

Bài học vận hành thị trường, đảm bảo cung ứng điện

* Khi không còn vai trò độc quyền của EVN và EVNNPT chuyển về bộ ngành quản lý, ai sẽ chịu trách nhiệm bảo đảm cung ứng điện?

- Tôi muốn nhấn mạnh một nguyên tắc: thị trường cạnh tranh không làm biến mất trách nhiệm đảm bảo an ninh điện, chỉ làm thay đổi cách phân chia trách nhiệm đó.

Khi còn độc quyền thì mọi thứ đều quy về EVN. Còn khi thị trường được vận hành, trách nhiệm phải được phân định rõ ràng cho từng chủ thể.

Nhà nước chịu trách nhiệm quy hoạch, theo dõi cân đối cung cầu và có công cụ can thiệp khi cần; đơn vị truyền tải chịu trách nhiệm về lưới; đơn vị điều độ độc lập chịu trách nhiệm vận hành hệ thống thời gian thực; các đơn vị mua buôn và bán lẻ chịu nghĩa vụ ký đủ hợp đồng để bảo đảm điện cho khách hàng của mình.

Bài học đáng nhớ nhất đến từ thị trường Texas, cạnh tranh cao nhưng không có cơ chế thị trường công suất đúng nghĩa, nên các nhà máy thiếu động lực đầu tư. Bão mùa đông Uri tháng 2-2021 làm hơn hai phần ba hộ gia đình mất điện.

Hậu quả không chỉ là mất điện mà còn là tài chính: có hộ nhận hóa đơn hơn 16.000 USD vì dùng gói giá theo thị trường bán buôn, và một số nhà bán lẻ phải tuyên bố phá sản. 

Sau sự kiện này, Texas phải tăng cường các cơ chế bảo đảm công suất, khiến người dùng tốn gần 1 tỉ USD trong năm 2022. Đáng chú ý, biến cố Uri đã phá vỡ sự đồng thuận về cách vận hành thị trường. 

Cần 4 lớp bảo đảm

* Vậy theo ông, giải quyết bài toán này thế nào nhằm thực hiện mục tiêu cao nhất là đảm bảo cung ứng điện?

- Tôi cho rằng cần có bốn lớp bảo đảm. Lớp thứ nhất là quy hoạch và đầu tư: bảo đảm nguồn và lưới được xây đúng tiến độ, có cơ chế để nguồn chạy nền, nguồn linh hoạt và lưu trữ được thu hồi vốn, ví dụ thanh toán công suất hoặc hợp đồng dài hạn. Hai là dự phòng hệ thống: dự trữ công suất, dự trữ nhiên liệu, quy định bắt buộc về khả năng chịu thời tiết cực đoan.

Lớp thứ ba là nghĩa vụ của bên bán điện: các đơn vị mua buôn, bán lẻ phải chứng minh đủ hợp đồng và đủ năng lực tài chính, kèm cơ chế chuyển khách hàng sang "nhà cung cấp cuối cùng" khi một đơn vị gặp sự cố, như cách Singapore và Anh đã áp dụng. 

Lớp thứ tư là giám sát độc lập: một cơ quan điều tiết và đơn vị giám sát thị trường đủ năng lực, chuyên môn, độc lập về tài chính để phát hiện sớm hành vi thao túng và rủi ro hệ thống. Gắn đó là yêu cầu nâng cấp công nghệ vận hành, dự báo phụ tải và nguồn tái tạo, hệ thống dữ liệu, và quy trình phối hợp khi có sự cố. 

Đọc tiếp Về trang Chủ đề