Nền nông nghiệp Việt không thể vận hành bằng may rủi

Những ngày đầu tháng 3-2026, một chủ vườn cam sành ở miền Tây giọng buồn rầu cho tôi biết giá bán 1kg cam sành tại vườn chỉ còn 1.500 đồng, đây là mức giá “gần như cho không”.
cam sành - Ảnh 1.

Cam bán trên vỉa hè theo bịch ở TP.HCM - Ảnh: HỮU HẠNH

Cũng như nhiều vườn khác, chủ vườn cam sành này đành bỏ mặc vườn cam của mình chín rục.

Chỉ năm ngoái thôi, những trái cam trong khu vườn này đã cho gia đình ông bay bổng trong cảnh được mùa được giá, nhưng năm nay, vẫn những trái cam mọng nước ấy, lại đang héo hon trong cảnh giá thu mua chạm đáy ngay tại vườn.

Lang thang cùng lão nông nhỏ thó, khắc khổ, giữa những luống cam trĩu quả, tôi biết, người chủ vườn này không trồng sai, ông tin vào những gì đã từng đúng, nên giờ vẫn đang ngơ ngác trước những đổi thay thời thế chóng mặt đang xoay chuyển liên tục bên ngoài vườn cam của ông.

Và có lẽ, chính điều đó mới là vấn đề.

Câu chuyện những vườn cam đã từng rực rỡ rồi lại bỏ không, có thể nói là một lát cắt phản ánh toàn bộ nền nông nghiệp Việt Nam hôm nay - nơi mà người nông dân vẫn làm việc chăm chỉ, nhưng kết quả ngày càng phụ thuộc vào may rủi.

Khi thị trường thay đổi theo từng vụ mùa và khí hậu, cũng như những câu chuyện mang tính đổi thay địa chính trị, mọi thứ không còn vận hành theo quy luật cũ, những quyết định dựa vào kinh nghiệm xưa cũ của cả hệ sinh thái nông nghiệp nói riêng cũng dần trở nên lạc nhịp.

Nông nghiệp Việt nói chung không thiếu đất, không thiếu người cũng như cả những quyết tâm, tất cả chỉ đang thiếu một cách nghĩ phù hợp với thời thế mới. Và vì thế, xét về bản chất, thì nông nghiệp Việt vẫn đang phiêu lưu đến ngày mai bằng chính dữ liệu của quá khứ.

Trăm hay không bằng tay quen

Trước đây, nông nghiệp Việt hầu như vận hành dựa vào kinh nghiệm không phải là sai. Ngược lại, đó từng là lựa chọn hợp lý và hiệu quả. Khi thị trường trong và ngoài nước còn tương đối ổn định, các chỉ số về sản lượng luôn đi theo quy mô dân số, nhu cầu, thì việc “đạt năng suất cao” gần như đảm bảo cho cả một hệ thống sẽ tích luỹ được thặng dư.

cam sành - Ảnh 2.

Nông sản Việt đối mặt với thực tế được mùa mất giá nhiều năm - Ảnh: HỮU HẠNH

Người nông dân không cần dự báo gì xa xôi, họ chỉ cần dựa theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình, học hỏi lẫn nhau rồi xắn tay gieo thêm những gì đã từng mang lại kết quả.

Kinh nghiệm, vì thế, trở thành một dạng “dữ liệu sống” - được tích lũy qua năm tháng, truyền thừa qua nhiều thế hệ. Nó không chỉ là “trăm hay”, mà còn là trục niềm tin được mặc định. Khi một loại cây từng giúp cả làng thoát nghèo, thì việc tiếp tục trồng nó không chỉ là quyết định mang tính kế thừa, mà còn có thể gọi là truyền thống, không thể khác, không cần tính toán xa xôi.

Trong một thế giới ít biến động, tư duy ấy đã từng đúng. Và chính vì cũng đã từng đúng trong thời gian đủ dài, người nông dân nói riêng có lý do để tin vào nó - thậm chí gắn chặt đời mình vào niềm tin đó - như một cách để “phòng thân” giữa cuộc sống nhiều rủi ro.

Nhưng thời thế đã thay đổi

Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, những gì từng đúng trong nông nghiệp cũng đang dần đổi thay. Thị trường nông sản hôm nay không còn vận hành theo nhịp năm, mà theo nhịp tháng, thậm chí từng tuần. Một loại nông sản có thể “sốt giá” trong một mùa, nhưng ngay sau đó lại nhanh chóng rơi vào tình trạng “giải cứu” vì rất nhiều lý do. Và trong câu chuyện thay đổi này, khoảng trễ giữa sản xuất và thông tin, luôn là vấn đề mấu chốt.

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang làm xáo trộn những quy luật quen thuộc. Ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, nước mặn xâm nhập sâu hơn, hạn hán, mưa lũ trái mùa kéo dài hơn, đất đai cũng đâu “dễ thở” như trước. Vì thế, những kinh nghiệm từng tích lũy qua nhiều thế hệ của người nông dân dần trở nên kém chính xác trong một môi trường ngày càng bất định.

Ở quy mô lớn hơn, nông nghiệp giờ đây không chỉ là câu chuyện trồng trọt, mà còn là một phần của chuỗi giá trị toàn cầu. Giá trị không còn nằm chủ yếu ở sản lượng, mà ở khả năng chế biến theo chuẩn, xây dựng thương hiệu và liên tục mở rộng cũng như tiếp cận thị trường mới. Khi phần lớn lợi nhuận nằm ở cuối chuỗi, việc chỉ tập trung vào sản xuất khiến người nông dân luôn ở vị thế yếu. Và khi người làm nông ở vị thế thấp như vậy, thì nền nông nghiệp nước nhà sẽ khó bay cao.

Đơn cử như ở Israel, một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên đất và nước như Việt Nam, nhưng nền nông nghiệp của họ được tổ chức theo một hệ thống có thể dự báo và kiểm soát. Chính phủ cũng như người làm nông nước họ không chờ thời tiết thuận lợi, mà thiết kế giải pháp để thích nghi, không trồng theo thói quen, mà ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Xây dựng hệ thống thay đổi tư duy người làm nông

Khi không có một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, quyết định sản xuất thường phải dựa vào những gì họ nghe được: từ thương lái, từ đồng nghiệp, thậm chí từ cả thế giới mạng. Đó có thể là kiểu thông tin “năm nay mít được giá” rất mơ hồ nhưng dễ lan nhanh. Trong khoảng trống thông tin như vậy, nguồn tin không chính thống nghiễm nhiên trở thành dữ liệu.

Phần lớn nông dân vẫn sản xuất nhỏ lẻ, khó liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh chung. Khi đến mùa thu hoạch, họ không quyết định được giá bán, mà chờ người khác đến định giá. Không có hợp đồng dài hạn, không có kênh tiêu thụ thật sự ổn định, cho nên mỗi vụ mùa đều chuyên chở cả những “hên xui”. Hãy nhân rộng vấn đề hiện tại lên, bức tranh toàn cảnh của một nền nông nghiệp đầy phập phồng sẽ hiện ra.

Người nông dân sẵn sàng thử giống mới, học cách làm mới, thậm chí vay vốn để đầu tư. Nhưng trong một hệ thống thiếu thông tin, thiếu liên kết và thiếu bảo đảm, mỗi thay đổi đều đi kèm rủi ro lớn.

Cho nên, câu chuyện thực tế đằng sau hàng loạt sự kiện “giải cứu” qua nhiều năm, ta có thể thấy rằng. Người nông dân không thiếu ý chí thay đổi - họ đang thiếu một hệ thống giúp họ thay đổi.

Ở cấp quản lý, điều cần thiết không chỉ là chính sách, mà là một hệ thống vận hành đồng bộ đính kèm: hành lang pháp lý rõ ràng để khuyến khích chia sẻ dữ liệu và liên kết sản xuất; cơ chế tín dụng linh hoạt, cho phép vay vốn dựa trên phương án sản xuất thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp; các chương trình đào tạo thực chất để “xóa mù công nghệ”, giúp người nông dân hiểu và sử dụng được công cụ mới. Quan trọng không kém là vai trò kết nối thị trường - từ hỗ trợ xây dựng thương hiệu đến mở rộng kênh tiêu thụ - để người sản xuất không còn đứng một mình ở đầu chuỗi.

Tôi rời khu vườn cam mà lòng cũng nặng trĩu. Rồi khu vườn cam này sẽ lại được trồng. Người nông dân như ông chủ vườn vẫn sẽ xuống giống, vẫn sẽ chăm sóc, vẫn đặt hy vọng vào một mùa vụ mới.

Nhưng nếu cách quyết định không thay đổi, thì kết cục có thể cũng sẽ không sáng sủa gì cho cam. Bởi cuối cùng, thứ quyết định tương lai của cả khu vườn không phải là cây cam, mà là lý do chính xác người ta phải trồng thứ gì trên nó.

Làm gì để hỗ trợ nông dân, kiến tạo nền nông nghiệp nước nhà?

Nếu vấn đề của nông nghiệp Việt Nam nằm ở cách ra quyết định, thì giải pháp cũng phải bắt đầu từ việc thay đổi cách ra quyết định đó.

Đối với người nông dân, điều họ thiếu không phải là sự cần cù, mà là ba yếu tố nền tảng: thông tin, công nghệ phù hợp và nguồn vốn đủ để sản xuất.

Một hệ thống thông tin đơn giản nhưng đáng tin cậy - cập nhật theo vùng về sản lượng, giá cả và xu hướng thị trường - có thể giúp người trồng không còn phải dựa vào tin đồn.

Công nghệ, từ những ứng dụng theo dõi thời tiết đến các giải pháp hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, ví dụ như Drip Irrigation (hệ thống tưới theo giọt), tất cả chỉ thực sự có ý nghĩa khi được thiết kế để người nông dân dễ tiếp cận và gắn với nhu cầu thực tế.

Và vốn, nếu không đi kèm với cơ chế hướng dẫn sử dụng và định hướng sản xuất, rất dễ trở thành gánh nặng thay vì động lực.

cam sành - Ảnh 3.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề