
Họa sĩ Lê Duy Ứng bên phiên bản tác phẩm vẽ Bác Hồ bằng máu từ đôi mắt bị thương tháng 4-1975 - Ảnh: THIÊN ĐIỂU
Họa sĩ Lê Duy Ứng còn duy trì thói quen tự học tiếng Anh trên YouTube và qua Đài tiếng nói Việt Nam, đi khắp đó đây nói chuyện, truyền lửa cho các bạn trẻ bằng câu chuyện vẽ Bác Hồ từ đôi mắt bị thương ngay trước cửa ngõ Sài Gòn đêm 27 rạng sáng 28-4-1975, và bằng chính nghị lực sống phi thường của mình suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Một thương binh hỏng mắt nhưng đã trở thành "nguồn sáng trong đời" như nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã đúc kết bằng vở kịch Nguồn sáng trong đời lấy cảm hứng từ thương binh Lê Duy Ứng.
Gặp lại ông những ngày tháng 7 nhiều cảm xúc trước những câu chuyện về các thương binh, liệt sĩ, tham quan bảo tàng các tác phẩm của ông và nghe ông kể chuyện, càng thấu hiểu tình yêu Tổ quốc lớn lao và những mất mát, hy sinh của các thế hệ cha anh.

Bức tranh "Bác Hồ với thiếu nhi" ông Lê Duy Ứng vẽ ở chiến trường khi còn sáng mắt - Ảnh: THIÊN ĐIỂU
Họa sĩ Lê Duy Ứng: Tôi mang ơn Bác Hồ
* Thưa ông, là một người lính, ông đã đến với hội họa như thế nào?
- Tôi mê vẽ từ nhỏ, do ảnh hưởng của bố, cũng là một họa sĩ. Khi còn là học sinh, tôi đã được một số giải thưởng thi vẽ ở địa phương. Lớn lên tôi vào học hội họa tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (nay là Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam).
Năm 1971, đang theo học năm thứ ba, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, tôi xung phong vào bộ đội. Tháng 9-1971, tôi thuộc quân số của Quận đội Hoàn Kiếm (Hà Nội) bổ sung vào Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 (nay là Quân đoàn 12).
Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới, cấp trên thấy tôi có khả năng vẽ bản đồ, đắp sa bàn… nên điều về làm chiến sĩ trinh sát. Những năm tháng chiến đấu, tôi vẫn tiếp tục vẽ ký họa chiến trường, vẽ chân dung đồng đội và vẽ Bác Hồ.
Tết năm 1974, hai bức tranh của tôi là Bác Hồ với thiếu nhi và Tượng Bác trên đỉnh Trường Sơn được giải thưởng Tranh Tết do Bộ Văn hóa tổ chức, họa sĩ Trần Văn Cẩn chấm chọn.

Họa sĩ Lê Duy Ứng làm rất nhiều tượng Bác Hồ - Ảnh: THIÊN ĐIỂU
* Ông còn vẽ hai bức tranh cổ động lớn treo trên hai xe chỉ huy Quân đoàn 2 tiến vào Sài Gòn tháng 4-1975 và đều có hình bóng Bác Hồ ở đó?
- Trong không khí Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, tôi đã vẽ nhiều bức tranh cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.
Ngày 10-4-1975, Thiếu tướng Lê Linh, Chính ủy Quân đoàn 2 gặp tôi, trao bức thư có chữ ký "Văn", sau này tôi mới biết là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bức thư khen ngợi Quân đoàn 2 đã đánh thắng ở Huế, Đà Nẵng. Đại tướng căn dặn Quân đoàn 2 chuẩn bị tiến vào giải phóng Sài Gòn cần phải "thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa".
Ông Lê Linh yêu cầu tôi nghiên cứu bức thư để vẽ một bức tranh cổ động. Tôi đã vẽ bức Hành quân thần tốc, xốc tới lập công, với hình ảnh cả đội hình quân đoàn tiến lên, trên đầu có máy bay đang bay, có Bác Hồ chỉ tay về phía trước, cả đoàn quân tiến lên giải phóng Sài Gòn.
Tôi nghĩ đây là chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên vẽ thêm một bức tranh nữa về Bác Hồ, vẽ theo bức Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân do hai người thầy của tôi là họa sĩ Huy Oánh và Nguyễn Thụ đã vẽ trước đó.
Hai bức tranh cổ động của tôi được treo trên hai chiếc xe chỉ huy từ Đà Nẵng tiến vào Sài Gòn.

Tác phẩm Đuổi địch ra khỏi Cửa Việt được họa sĩ, chiến sĩ Lê Duy Ứng vẽ năm 1973 - Ảnh: THIÊN ĐIỂU
* Và khoảnh khắc ông vẽ Bác Hồ bằng máu từ đôi mắt bị trọng thương không còn nhìn thấy đã diễn ra thế nào?
- Đêm 27 và rạng sáng 28-4-1975, khi tôi đang tác nghiệp trên xe tăng 847 ở căn cứ Nước Trong thì bị trọng thương ở mắt.
Khi ngã xuống, trong bom đạn ác liệt, nghĩ mình không còn sống nữa nên tôi chấm máu từ đôi mắt bị thương để vẽ chân dung Bác Hồ, cờ Tổ quốc, cờ Đảng bay phấp phới, cùng dòng chữ "Ánh sáng niềm tin! Con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân" rồi ký tên. Sau đó, tôi gấp cẩn thận và bỏ vào túi ngực bên trái, rồi ngất đi một lần nữa.
* Nhiều người có lẽ thắc mắc tại sao trong khoảnh khắc cận kề sống chết ấy ông đã nghĩ tới Bác và vẽ chân dung Người thay vì một người thân nào đó?
- Khi tôi sang Thụy Điển dự triển lãm của các nghệ sĩ khiếm thị, hay sang Nhật chữa mắt và giao lưu với những người trẻ, họ cũng đặt câu hỏi rằng tại sao lúc bị thương như vậy, tôi không nghĩ tới cha mẹ, người thân, mà lại nghĩ tới Bác Hồ và vẽ chân dung Bác.
Tôi đã trả lời họ rằng: Bác Hồ đối với tôi là một thần tượng đặc biệt. Tôi là người lính Cụ Hồ, tôi theo Bác. Gia đình tôi là gia đình bần nông ở Quảng Bình, không có cơm ăn, áo mặc, không được học hành. Nhờ có Bác mà gia đình tôi được chia ruộng đất, các anh em tôi được học hành đến nơi đến chốn.
Không chỉ gia đình tôi mà nhiều gia đình trên đất nước Việt Nam mang ơn Bác Hồ. Với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại. Giữa bom đạn, sống chết năm ấy, hình ảnh Bác bừng sáng trong đôi mắt đã phủ đầy bóng tối của tôi.

Họa sĩ Lê Duy Ứng bên tác phẩm điêu khắc "Bác Hồ với các em thiếu nhi" - Ảnh: THIÊN ĐIỂU
Ánh sáng niềm tin
* Rồi "cuộc đời" của bức tranh đặc biệt ấy đã diễn ra như thế nào?
- Khi tôi ngất đi lần thứ 2, sau khi vẽ xong bức tranh, đồng đội tưởng tôi đã hy sinh, còn đưa đi chôn nhưng may mắn tôi tỉnh lại. Tôi được đưa ra Nha Trang an dưỡng rồi ra Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 điều trị. Lúc đó tôi tưởng bức tranh đã mất rồi. Không ngờ, nó đã được các đồng chí giữ lại, cất gọn vào ba lô cho tôi.
Khi tôi ở Bệnh viện 108, cuối năm 1975, các họa sĩ quân đội Quang Thọ, Dương Viên, Huy Toàn, Văn Đa đã vào thăm. Y tá chuyển ba lô của tôi ra để chuẩn bị đưa tôi vào Quân khu 4 tiếp tục an dưỡng, thì các họa sĩ phát hiện có bức tranh đó. Tôi sờ vào biết ngay đó là bức tranh mình vẽ Bác Hồ, rất xúc động.
Khi ấy nhà văn Sơn Tùng cũng đến thăm tôi. Nhìn bức tranh, ông Sơn Tùng nói hình Bác như hiển hiện trên những đám mây hồng. Ông đã viết bài báo với tiêu đề Ánh sáng niềm tin.
Đêm giao thừa năm 1976, tôi đang nằm với bố ở quê nhà, chợt thấy đài phát thanh đọc bài viết của nhà văn Sơn Tùng. Bố nghe xong rất xúc động khi biết con trai mình đã vẽ bức tranh Bác Hồ giữa lằn ranh sống chết như vậy. Đêm ấy, tôi nằm kể chuyện chiến trường cho bố nghe.
Nhà văn Sơn Tùng khuyên tôi nên tặng bức tranh vẽ Bác Hồ cho Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam). Năm 1976 tôi đã tặng bức tranh cho bảo tàng.
Đến năm 1990, Bảo tàng Quân đội tặng lại cho Bảo tàng Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ. Bức tranh được giữ gìn cho tới ngày nay tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
* Bị hỏng mắt, vậy ông đã trở lại với hội họa thế nào?
- Cuối năm 1975, tôi ra Bệnh viện 108 điều trị nhưng không có hy vọng sáng mắt, tôi rất buồn. Bác sĩ Đào Xuân Trà - Phó giám đốc Bệnh viện kiêm chủ nhiệm khoa mắt - thấy tôi ngồi buồn đã nói: "Ứng ơi Ứng đừng buồn. Ở Liên Xô mình thấy có một nghệ sĩ mù nhưng nặn tượng rất giỏi. Ứng thử chuyển sang làm điêu khắc xem có được không". Từ đó tôi hay ngồi nặn tượng ở hành lang khoa mắt.
Một hôm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến bệnh viện khám mắt. Trong lúc khám bệnh cho Đại tướng, ông Trà kể ở Bệnh viện 108 có một thương binh người Quảng Bình mới ra điều trị, hai mắt không nhìn thấy nhưng vẫn làm tượng.
Vậy là Đại tướng tới khoa mắt thăm tôi, đúng lúc tôi đang mò mẫm nặn tượng Bác Hồ. Đại tướng hỏi thăm tôi, hỏi chuyện xóm làng, quê hương. Khi chia tay, bác ôm tôi thật chặt và hỏi: "Ứng có biết Beethoven sáng tác những bản nhạc hay nhất vào giai đoạn nào không?". Rồi ông đáp: Chính là lúc nhạc sĩ điếc hai tai. Một nhạc sĩ mà điếc thì cũng như một họa sĩ bị mù. Hãy lấy tấm gương của Beethoven mà phấn đấu, rèn luyện.
Từ đó, câu nói của bác Giáp và câu "Thương binh tàn nhưng không phế", "Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền…" của Bác Hồ đã soi rọi cho tôi tiếp tục phấn đấu làm người có ích.
May mắn, năm 1982, giáo sư, bác sĩ Nguyễn Trọng Nhân (lúc đó đang là Phó viện trưởng Viện Mắt Trung ương) mổ mắt cho tôi, giúp tôi thấy được ánh sáng.
Một năm sau, tôi được Bộ Quốc phòng đón về quân đội, phong quân hàm vượt cấp, từ thiếu úy lên đại úy. Tôi làm ở Xưởng mỹ thuật quân đội một thời gian thì về Bảo tàng Quân đội cho tới khi về hưu năm 2009.
Đôi mắt tôi sáng lại được 19 năm. Trong 19 năm ấy, tôi vẽ hàng trăm bức tượng gỗ và hàng ngàn bức tranh.
Năm 2005 tôi lại được Nhà nước cho sang Nhật chữa trị, mổ lần thứ 2. Lần này một bên mắt tôi sáng lại được 4 năm rồi lại mờ. Tới nay mắt tôi chỉ còn phân biệt sáng - tối, ngày - đêm, nhưng tôi vẫn tiếp tục tạc tượng, tự học tiếng Anh, làm thơ, viết nhật ký, đi nói chuyện truyền cảm hứng cho các bạn trẻ.
* Cảm ơn ông!

Một số tác phẩm điêu khắc của Lê Duy Ứng - Ảnh: THIÊN ĐIỂU

79 tuổi, người thương binh hỏng mắt Lê Duy Ứng vẫn túc tắc tạc tượng - Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Ông Lê Duy Ứng trong xưởng điêu khắc của ông tại nhà riêng ở Hà Nội - Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Họa sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Duy Ứng
Họa sĩ, nhà điêu khắc Lê Duy Ứng đã tổ chức gần 50 cuộc triển lãm cá nhân; giành được nhiều giải thưởng mỹ thuật danh giá trong và ngoài nước.
Với chiến công xuất sắc trong cuộc kháng chống Mỹ, cứu nước, ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng ba, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng ba…
Ngày 30-10-2013, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.