Doanh nhân Đặng Hồng Anh: “Thời gian của doanh nghiệp chính là chi phí, sự không chắc chắn về thời gian cũng là một loại chi phí”

Theo ông Đặng Hồng Anh, những vấn đề lặp lại tại nhiều địa phương tập trung vào thể chế và thực thi, hạ tầng và logistics, thị trường và chuỗi cung ứng, công nghệ và dữ liệu, chuyển đổi xanh, vốn, nhân lực và quản trị.

“Thời gian của doanh nghiệp chính là chi phí. Sự không chắc chắn về thời gian chính là một loại chi phí”. Ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, đưa ra nhận định này tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 - Vòng bàn tròn kết nối nội lực cấp miền, phiên khu vực miền Trung diễn ra ngày 26/9/2026 tại Đà Nẵng.

Phát biểu của ông Đặng Hồng Anh xuất phát từ những vấn đề được ghi nhận qua các vòng đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp trước đó. Sau 9 phiên đối thoại địa phương, Ban tổ chức đã tổng hợp 404 ý kiến, kiến nghị và sáng kiến của doanh nghiệp.

Có dự án mất từ 1 đến 5 năm để hoàn tất thủ tục pháp lý

Theo ông Đặng Hồng Anh, những vấn đề lặp lại tại nhiều địa phương tập trung vào thể chế và thực thi, hạ tầng và logistics, thị trường và chuỗi cung ứng, công nghệ và dữ liệu, chuyển đổi xanh, vốn, nhân lực và quản trị.

Từ thực tế này, ông khái quát thành ba khoảng cách lớn. Khoảng cách thứ nhất là từ chủ trương đến thực thi.

Ông cho rằng doanh nghiệp không chỉ cần biết chính sách có hay không, mà cần biết cụ thể hồ sơ đang ở đâu, ai là người chịu trách nhiệm, bao lâu có kết quả, dữ liệu nào phải được cung cấp và trong trường hợp nhiều sở, ngành cùng tham gia thì cơ quan nào là đầu mối cuối cùng.

Ông dẫn trường hợp doanh nghiệp tại Khánh Hòa phản ánh một dự án phải mất từ 1 đến 5 năm để hoàn tất các thủ tục pháp lý.

Trong khi đó, theo ông, thực tế tại Huế cho thấy nếu một vấn đề được phân loại trước, giao đúng đầu mối và theo dõi đến cùng thì thời gian xử lý có thể được rút ngắn.

“Vì vậy, cải cách thể chế không chỉ là sửa thêm quy định, rất nhiều vấn đề có thể cải thiện ngay bằng chất lượng thực thi. Thời gian của doanh nghiệp chính là chi phí. Sự không chắc chắn về thời gian chính là một loại chi phí”, ông Đặng Hồng Anh nói.

Một cảng nước sâu chưa tự tạo ra nguồn hàng

Khoảng cách thứ hai được ông Đặng Hồng Anh chỉ ra là từ hạ tầng đến hành lang kinh tế.

Theo ông, miền Trung không thiếu những công trình hạ tầng lớn, nhưng một tuyến cao tốc chưa tự tạo ra chuỗi giá trị, một cảng nước sâu chưa tự tạo ra nguồn hàng, trong khi một vùng nguyên liệu lớn cũng chưa tự đi tới được thị trường quốc tế.

Vấn đề vì vậy không chỉ nằm ở việc còn thiếu công trình nào, mà là mắt xích nào đang làm tăng chi phí cho cả chuỗi.

Ông cho biết có nơi thiếu kho lạnh, có nơi thiếu trung tâm sơ chế, có nơi thiếu dữ liệu luồng hàng, trong khi có nơi cảng đã có nhưng nguồn hàng và doanh nghiệp phía sau chưa đủ mạnh.

Theo ông, liên kết không thể chỉ dừng ở việc nối các địa danh trên bản đồ mà phải kết nối được dòng hàng, dòng vốn, dữ liệu, doanh nghiệp và thị trường.

Doanh nghiệp địa phương có thể vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng

Khoảng cách thứ ba, theo ông Đặng Hồng Anh, là khoảng cách giữa tăng trưởng của địa phương và năng lực lớn lên của doanh nghiệp.

Ông cho rằng một địa phương có thể thu hút thêm nhiều tỷ USD đầu tư, xây dựng thêm nhiều khu công nghiệp và đón những tập đoàn lớn, nhưng nếu doanh nghiệp địa phương vẫn chỉ cung ứng những sản phẩm, dịch vụ có giá trị thấp, hoặc thậm chí đứng ngoài chuỗi cung ứng, hiệu ứng lan tỏa sẽ thấp hơn nhiều so với tiềm năng.

Từ đó, ông đặt vấn đề về cách kết nối giữa các doanh nghiệp.

Theo ông, kết nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp không thể dừng ở hội nghị và trao danh thiếp.

Doanh nghiệp cần biết người mua yêu cầu tiêu chuẩn gì, bản thân đang thiếu năng lực nào, ai có thể hỗ trợ nâng chuẩn, nguồn vốn để nâng cấp ở đâu, sau khi đạt chuẩn có được thử nghiệm đơn hàng hay không và cuối cùng có đi tới ký hợp đồng hay không.

“Thước đo cuối cùng của xúc tiến thương mại phải là đơn hàng. Thước đo của chương trình phát triển nhà cung ứng phải là số doanh nghiệp thực sự vào được chuỗi”, ông nói.

Đề xuất kết nối doanh nghiệp với nhu cầu mua hàng của các tập đoàn

Từ những vấn đề trên, ông Đặng Hồng Anh đề nghị nghiên cứu một chương trình phát triển nhà cung ứng, trong đó dữ liệu doanh nghiệp được kết nối với nhu cầu mua hàng của các tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp đầu chuỗi.

Quá trình kết nối, theo ông, cần được theo dõi cho đến khi hình thành hợp đồng.

Với doanh nghiệp nhỏ, ông đề xuất chuyển từ các chương trình hỗ trợ riêng rẽ sang gói nâng cấp năng lực đồng bộ, đặt công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, chuyển đổi xanh, chứng chỉ, vốn và quản trị trong cùng một bài toán.

“Công nghệ chỉ có thực ý nghĩa khi làm tăng năng suất; chuyển đổi xanh chỉ bền vững khi giúp doanh nghiệp giữ được hoặc mở thêm được thị trường”, ông Đặng Hồng Anh nói.

Theo ông, yêu cầu về nguồn nhân lực cũng cần được tổ chức lại theo nhu cầu từng ngành. Doanh nghiệp có thể mua được máy móc nhưng chưa chắc có người vận hành; có thị trường nhưng chưa chắc có đội ngũ đáp ứng tiêu chuẩn; có vốn nhưng chưa chắc có năng lực quản trị để hấp thụ vốn hiệu quả.

Đà Nẵng lập tổ chuyên gia và tư vấn pháp lý

Từ phía chính quyền địa phương, ông Phan Thái Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng, cho biết thành phố xác định cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân không chỉ là đối tượng phục vụ mà còn là đối tác đồng hành trong quá trình xây dựng và phát triển thành phố.

Theo ông, thành phố cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số, duy trì đối thoại, lắng nghe và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

Ông Phan Thái Bình cho biết một ngày trước diễn đàn, Đà Nẵng đã ký quyết định thành lập Tổ chuyên gia và tư vấn pháp lý.

Theo thiết kế được ông nêu tại diễn đàn, một cơ quan sẽ được giao làm đầu mối, cùng quy chế làm việc theo từng lĩnh vực từ đầu tư, đất đai, môi trường, thuế, bảo hiểm xã hội đến hải quan.

Mỗi nội dung sẽ có cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và thời hạn chuyển hồ sơ, thời hạn giải quyết.

Thành phố dự kiến công khai quy trình này trên Cổng thông tin điện tử, qua đó doanh nghiệp có thể theo dõi hồ sơ đang ở đâu thay vì phải liên hệ từng cơ quan để hỏi tiến độ.