Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số

Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 1.

Bà Wanming Du cùng ông Dominic Scriven - Chủ tịch Dragon Capital (bên phải) - trong phiên thảo luận tại Diễn đàn Thị trường vốn - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Trao đổi với Tuổi Trẻ bên lề Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026 do báo Tuổi Trẻ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tổ chức, bà Wanming Du - Giám đốc Chính sách Chỉ số khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC) của FTSE Russell - đánh giá cao những cải cách giúp thị trường chứng khoán Việt Nam đạt được cột mốc nâng hạng quan trọng.

Trong giai đoạn tiếp theo, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ đáp ứng các tiêu chí tiếp cận thị trường sang nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nền tảng thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn.

Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 2.

* Thưa bà, Việt Nam đã được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp theo phân loại của FTSE Russell. Sau cột mốc quan trọng này, dòng vốn từ các quỹ đầu tư quốc tế sẽ vận động như thế nào? Việt Nam cần làm gì để tiếp tục thu hút thêm dòng vốn?
Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 3.

Bà Wanming Du cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh nhà đầu tư tổ chức trong nước - Ảnh: QUANG ĐịNH

- Trước hết, tôi muốn chúc mừng thị trường chứng khoán Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập và đạt được bước tiến quan trọng trong quá trình nâng hạng.

Tôi cho rằng giai đoạn đầu tiên đưa cổ phiếu Việt Nam vào bộ chỉ số toàn cầu FTSE đã diễn ra rất thành công. Việc triển khai suôn sẻ là tín hiệu tích cực, tạo nền tảng và củng cố niềm tin cho những giai đoạn tiếp theo.

Đối với các quỹ đầu tư thụ động, việc phân bổ vốn vào một thị trường được thực hiện dựa trên tỉ trọng của thị trường đó trong bộ chỉ số mà quỹ theo dõi.

Sau khi hoàn tất các đợt phân bổ, dòng vốn thụ động sẽ tiếp tục được duy trì tại Việt Nam, miễn là thị trường giữ được tỉ trọng và số lượng doanh nghiệp trong danh mục chỉ số thị trường mới nổi.

Tuy nhiên, để thu hút thêm dòng vốn, Việt Nam cần hướng đến việc gia tăng tỉ trọng trong các bộ chỉ số quốc tế.

Một trong những yếu tố quan trọng là tăng số lượng doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện tham gia các bộ chỉ số. Điều này đòi hỏi thị trường có thêm nhiều đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), gia tăng nguồn cung cổ phiếu và mở rộng cơ hội đầu tư ở nhiều ngành nghề khác nhau.

Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP hấp dẫn, nhưng một nền kinh tế tăng trưởng nhanh không tự động đồng nghĩa với việc có một thị trường chứng khoán đủ chiều sâu và cơ hội đầu tư.

Các nhà đầu tư toàn cầu thường tìm kiếm những thị trường có quy mô đủ lớn để giải ngân những khoản vốn đáng kể, đồng thời có thể dễ dàng tái cơ cấu danh mục khi cần thiết.

Vì vậy, bên cạnh số lượng doanh nghiệp niêm yết, những yếu tố như chất lượng doanh nghiệp, tỉ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free float), sự đa dạng ngành nghề và thanh khoản ổn định đều rất quan trọng.

Mục tiêu không đơn thuần là có thêm nhiều doanh nghiệp niêm yết, mà là xây dựng một thị trường có chiều sâu hơn, đa dạng hơn và mang lại nhiều cơ hội đầu tư thực chất.

Khi số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia các bộ chỉ số tăng lên, cùng với việc cải thiện khả năng tiếp cận của nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội gia tăng tỉ trọng trong danh mục thị trường mới nổi, qua đó thu hút thêm dòng vốn.

* Bà có thể chia sẻ rõ hơn giới hạn sở hữu nước ngoài hiện ảnh hưởng như thế nào đến khả năng thu hút dòng vốn quốc tế cũng như gia tăng tỉ trọng của cổ phiếu Việt Nam trong các bộ chỉ số của FTSE Russell?
Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 4.
Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 5.
Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 6.

Đại diện FTSE tin tưởng vào tiềm năng phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong những năm tới - Ảnh: SSC, Reuters, VGP

- Tôi cho rằng Việt Nam đã đạt được những bước tiến rất đáng ghi nhận trong việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường.

Tuy nhiên, giới hạn sở hữu nước ngoài vẫn là một trong những vấn đề cần tiếp tục quan tâm.

Việc tiếp tục nới lỏng những hạn chế này có thể giúp nâng cao khả năng đầu tư (investability) vào các doanh nghiệp Việt Nam và hỗ trợ sự hiện diện của các doanh nghiệp này trong các bộ chỉ số của FTSE Russell.

Đây là yếu tố quan trọng bởi khả năng tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tham gia của các doanh nghiệp trong danh mục chỉ số quốc tế.

Khi những hạn chế về sở hữu nước ngoài được tháo gỡ, cơ hội gia tăng tỉ trọng của các doanh nghiệp Việt Nam trong bộ chỉ số sẽ được cải thiện, từ đó góp phần nâng cao khả năng thu hút dòng vốn quốc tế.

Tôi cho rằng đây là một trong những ưu tiên Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy sau nâng hạng.

Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 7.

* Trong nhiều năm, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường là trọng tâm của quá trình nâng hạng. Khi đã đạt được cột mốc này, theo bà, đâu là những cải cách Việt Nam cần tiếp tục ưu tiên để nâng cao sức cạnh tranh với các thị trường mới nổi khác?
Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 8.

Một góc Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026 - Ảnh: QUANG ĐỊNH

- Tôi cho rằng một trong những ưu tiên chiến lược quan trọng nhất trong giai đoạn tiếp theo là chuyển dịch trọng tâm từ khả năng tiếp cận thị trường sang năng lực cạnh tranh của thị trường.

Bộ tiêu chí phân loại của FTSE Russell đặc biệt chú trọng khả năng tiếp cận và giao dịch thực tế của nhà đầu tư nước ngoài. Đây là điều kiện quan trọng để một thị trường có thể tham gia sâu hơn vào hệ thống đầu tư toàn cầu.

Việt Nam đã đạt được những bước tiến ấn tượng trong lĩnh vực này. Một trong những cải cách nổi bật là tháo gỡ nút thắt liên quan đến yêu cầu ký quỹ 100% trước giao dịch đối với nhà đầu tư tổ chức nước ngoài, vốn là vướng mắc kéo dài trong nhiều năm.

Tuy nhiên, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường không phải là công việc có thể hoàn thành trong một lần. Đây là quá trình cải thiện liên tục, đặc biệt khi ngày càng nhiều nhóm nhà đầu tư quốc tế tham gia với những yêu cầu vận hành khác nhau.

Theo tôi, có ba vấn đề thực tiễn cần tiếp tục quan tâm. Thứ nhất là đơn giản hóa quy trình gia nhập thị trường.

Đối với một nhà đầu tư tổ chức toàn cầu, việc đầu tư vào một thị trường mới không đơn giản chỉ là lựa chọn doanh nghiệp tốt.

Họ còn phải thực hiện nhiều thủ tục như mở tài khoản, lựa chọn ngân hàng lưu ký, kết nối hệ thống với công ty môi giới và đáp ứng các yêu cầu về tuân thủ, vận hành.

Nếu những quy trình này quá phức tạp hoặc mất nhiều thời gian, chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định phân bổ vốn.

Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, tăng cường kết nối giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ và mở rộng sự tham gia của các công ty chứng khoán vào mô hình môi giới toàn cầu (global broker).

Đây là những cải thiện mang tính thực tiễn nhưng có ý nghĩa rất lớn đối với việc thu hút nhà đầu tư quốc tế.

Thứ hai là nâng cao hiệu quả giao dịch và thanh toán. Các nhà đầu tư quốc tế kỳ vọng quy trình giao dịch phải có tính chuẩn hóa, dễ dự đoán và tương thích với mô hình vận hành mà họ sử dụng trên phạm vi toàn cầu.

Những cải cách về cơ chế không yêu cầu ký quỹ 100% trước giao dịch (non-prefunding) của Việt Nam là bước tiến tích cực.

Tuy nhiên, nhiệm vụ tiếp theo là bảo đảm các cơ chế này vận hành ổn định trên thực tế, đáp ứng nhu cầu của các nhóm nhà đầu tư và định chế trung gian khác nhau.

Việc tối ưu hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng kết nối với các công ty môi giới quốc tế và nâng cao độ tin cậy của khâu thanh toán sẽ tiếp tục cải thiện trải nghiệm của nhà đầu tư.

Thứ ba là khả năng tiếp cận thị trường ngoại hối. Đối với nhà đầu tư quốc tế, hoạt động đầu tư không chỉ dừng lại ở việc mua hoặc bán chứng khoán, mà còn liên quan đến chuyển đổi ngoại tệ, quản lý dòng tiền và chuyển vốn, lợi nhuận về nước.

Do đó, tính minh bạch, thanh khoản và mức độ thuận tiện trong giao dịch ngoại hối là những yếu tố không thể tách rời của khả năng tiếp cận thị trường.

Đây không phải là thách thức riêng của Việt Nam, mà là vấn đề chung của nhiều thị trường mới nổi.

Điều quan trọng không nhất thiết là phải áp dụng hoàn toàn mô hình của các thị trường phát triển, mà là xây dựng được một môi trường đầu tư đủ hiệu quả, rõ ràng và đáng tin cậy.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng một thị trường có triển vọng tăng trưởng kinh tế hấp dẫn chưa chắc đã thu hút được dòng vốn tương xứng nếu nhà đầu tư gặp quá nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận.

Thị trường càng thuận tiện và dễ vận hành, nhà đầu tư càng sẵn sàng phân bổ vốn. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng mạnh mẽ, hiệu quả vận hành sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng.

* Bên cạnh việc thu hút dòng vốn ngoại, bà cho rằng Việt Nam cần phát triển mạnh hơn lực lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước, đồng thời nâng cao tính minh bạch và quản trị doanh nghiệp. Những yếu tố này có ý nghĩa như thế nào đối với khả năng thu hút và duy trì dòng vốn dài hạn?
Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 9.

Các diễn giả thảo luận sôi nổi về giải pháp hút vốn ngoại trong bối cảnh vừa được FTSE Russell nâng hạng - Ảnh: QUANG ĐỊNH

- Chúng ta thường nói nhiều về dòng vốn đầu tư nước ngoài, và điều đó hoàn toàn có cơ sở bởi đây là nguồn lực rất quan trọng.

Tuy nhiên, nếu nhìn về trung và dài hạn, tôi cho rằng sự phát triển của các nhà đầu tư tổ chức trong nước cũng có ý nghĩa không kém.

Kinh nghiệm từ những thị trường thành công trên thế giới cho thấy cần có sự cân bằng giữa nhà đầu tư tổ chức nước ngoài và nhà đầu tư tổ chức trong nước.

Một thị trường vốn vững mạnh không thể chỉ dựa vào dòng vốn ngoại.

Các nhà đầu tư tổ chức nội địa có thể đóng vai trò như một điểm tựa giúp thị trường duy trì sự ổn định và nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động từ bên ngoài.

Do đó, trong dài hạn, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các quỹ hưu trí, tổ chức bảo hiểm, công ty quản lý quỹ và những sản phẩm đầu tư gắn với tiết kiệm, tích lũy dài hạn.

Mỗi nhóm nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro, mục tiêu và chu kỳ đầu tư khác nhau. Khi thị trường có cơ cấu nhà đầu tư đa dạng, dòng vốn sẽ trở nên cân bằng hơn, góp phần duy trì thanh khoản, hạn chế biến động và tạo nền tảng cho hoạt động huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp.

Song song đó, tôi cho rằng niềm tin và sự minh bạch là nền tảng của mọi thị trường vốn thành công.

Nhà đầu tư quốc tế coi trọng tính minh bạch và khả năng dự đoán của môi trường đầu tư.

Họ cần được tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời; hiểu rõ cấu trúc quản trị doanh nghiệp, cơ chế bảo vệ quyền lợi cổ đông và những chuẩn mực công bố thông tin quan trọng.

Vì vậy, quản trị doanh nghiệp tốt không chỉ đơn thuần là vấn đề tuân thủ pháp luật, mà còn là yếu tố giúp củng cố niềm tin của nhà đầu tư và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với những doanh nghiệp Việt Nam có tham vọng thu hút các cổ đông chiến lược quốc tế và nguồn vốn đầu tư dài hạn.

Bởi cuối cùng, bên cạnh triển vọng tăng trưởng của cả nền kinh tế, nhà đầu tư vẫn phải đưa ra quyết định đối với từng doanh nghiệp cụ thể.

Niềm tin dành cho chính doanh nghiệp đó sẽ đóng vai trò quyết định.

Ở cấp độ thị trường, một môi trường có quy định ổn định, hiệu quả, công bố thông tin minh bạch và hoạt động vận hành nhất quán sẽ giúp củng cố niềm tin của cả nhà đầu tư trong nước lẫn quốc tế.

Tôi cho rằng một trong những thước đo quan trọng về mức độ trưởng thành của thị trường vốn Việt Nam trong những năm tới chính là sự lớn mạnh của hệ sinh thái nhà đầu tư tổ chức trong nước, song hành với sự tham gia ngày càng sâu rộng của các dòng vốn quốc tế.

* Nhìn xa hơn cột mốc nâng hạng hiện nay, bà kỳ vọng thị trường vốn Việt Nam sẽ có vị thế như thế nào vào năm 2035?
Đại diện FTSE Russell: Việt Nam cần tăng số doanh nghiệp trong các bộ chỉ số - Ảnh 10.

Bà Vũ Thị Chân Phương - Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán, cùng bà Wanming Du (thứ hai từ phải qua) và các đại biểu trò chuyện trước sự kiện Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026, với chủ đề "Dòng vốn mới - Vị thế mới" do báo điện tử Tuổi Trẻ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tổ chức ngày 30-10 tại TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH

- Tôi tin tưởng vào tiềm năng phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong những năm tới.

Đến năm 2035, chúng ta có thể kỳ vọng vào một thị trường phát triển đáng kể cả về quy mô lẫn chiều sâu.

Đó sẽ là thị trường có nhiều doanh nghiệp chất lượng, hoạt động trong những lĩnh vực giàu tiềm năng như sản xuất công nghệ cao, công nghệ thông tin, dịch vụ tiêu dùng và chuyển dịch năng lượng.

Đồng thời, thị trường cần được hỗ trợ bởi một hệ sinh thái nhà đầu tư tổ chức trong nước đủ mạnh, trong khi các nhà đầu tư quốc tế có thể tiếp cận cơ hội đầu tư một cách thuận tiện, minh bạch và an toàn.

Nhưng quan trọng hơn, tôi kỳ vọng thị trường vốn sẽ đóng vai trò ngày càng lớn trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.

Tầm nhìn này không chỉ dừng lại ở việc thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, mà còn hướng đến xây dựng một hệ sinh thái thị trường vốn toàn diện, có khả năng hỗ trợ đổi mới sáng tạo, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.

Thị trường vốn cũng cần tạo điều kiện huy động nguồn lực dài hạn cho những lĩnh vực quan trọng như cơ sở hạ tầng và công nghệ, đồng thời tăng cường kết nối giữa Việt Nam với các trung tâm tài chính toàn cầu.

Tôi cho rằng định hướng phát triển TP.HCM thành trung tâm tài chính quốc tế cũng mở ra nhiều cơ hội hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm.

Tuy nhiên, xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế không đơn thuần là phát triển các tòa nhà hay những công cụ tài chính mới. Điều quan trọng hơn cả là tạo dựng một môi trường đáng tin cậy, nơi nhà đầu tư có niềm tin vào hệ thống pháp lý, hạ tầng và các thể chế hỗ trợ hoạt động đầu tư.

Đây là hành trình đòi hỏi thời gian, sự nhất quán trong chính sách và sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công với khu vực tư.

Về phía FTSE Russell, chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì các tiêu chuẩn minh bạch, khách quan, phản ánh nhu cầu thực tế của cộng đồng đầu tư quốc tế và thúc đẩy đối thoại mang tính xây dựng.

Tất nhiên, những quyết định chiến lược định hình tương lai thị trường vốn vẫn thuộc về Việt Nam. Nhưng tôi tin rằng kinh nghiệm và sự đồng hành của cộng đồng quốc tế sẽ là nguồn lực hỗ trợ hiệu quả để Việt Nam hiện thực hóa những mục tiêu phát triển dài hạn.

* Xin cảm ơn bà!
Nội dung: BÌNH KHÁNH - MINH ĐỨC - NGHI VŨ
Trình bày:
TUẤN ANH