Chuyên gia WEF: Việt Nam nên khuyến khích tập đoàn lớn toàn cầu cùng phát triển sản phẩm

Theo TS Sandy Chong, nếu các tập đoàn lớn chỉ bán công nghệ và doanh nghiệp Việt Nam mua về sử dụng, khả năng sáng tạo sẽ bị giới hạn. Thay vào đó, cần khuyến khích các tập đoàn cùng phát triển sản phẩm riêng cho thị trường Việt Nam.
Chuyên gia WEF: Việt Nam nên khuyến khích tập đoàn lớn cùng phát triển sản phẩm - Ảnh 1.

TS Sandy Chong, Giám đốc phụ trách các sáng kiến khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) - Ảnh: BTC

Ngày 27-10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 - Sự hội tụ của các cực tăng trưởng mới toàn cầu (AEF 2026), các chuyên gia đã có cuộc thảo luận về "Ngoại giao công nghệ cho các siêu đô thị: Cách các thành phố chuyển hóa quan hệ đối tác công nghệ thành động lực tăng trưởng".

Ngoại giao công nghệ là việc vận dụng các hoạt động ngoại giao để thúc đẩy đối thoại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ, kết nối chính phủ, doanh nghiệp và giới nghiên cứu nhằm thu hút nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phục vụ mục tiêu phát triển.

Tuổi Trẻ đã có cuộc phỏng vấn với TS Sandy Chong, Giám đốc phụ trách các sáng kiến khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF).

Thành phố nên hợp tác với các tổ chức quốc tế

* Việt Nam cần làm gì để bảo đảm các quan hệ đối tác với những tập đoàn công nghệ toàn cầu giúp doanh nghiệp Việt Nam xây dựng năng lực công nghệ của mình, thay vì chỉ trở thành khách hàng mua công nghệ nhập khẩu? Bà có những đề xuất cụ thể nào không?

- TS Sandy Chong: Điều quan trọng là khi các tập đoàn công nghệ lớn đến Việt Nam, họ cần tham gia vào toàn bộ hệ sinh thái, bao gồm Chính phủ, trường đại học, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hiệp hội doanh nghiệp và các ngành công nghiệp. Họ không nên chỉ làm việc với Chính phủ mà bỏ qua khu vực tư nhân, hoặc chỉ hợp tác với doanh nghiệp mà không góp phần đào tạo thế hệ tiếp theo.

Chính phủ cần có chính sách để bảo đảm điều này. Khi một doanh nghiệp muốn đến Việt Nam và tiếp cận dữ liệu tại đây, doanh nghiệp đó cần phải đóng góp lại thứ gì đó. Chẳng hạn, họ có thể hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ chức các cuộc thi hackathon tại trường đại học hoặc phối hợp phát triển những giải pháp mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Những nhóm được hưởng lợi có thể là người cao tuổi, người khuyết tật, người dân nông thôn và người làm nông nghiệp.

Điều quan trọng là những yêu cầu này phải được đưa vào chính sách một cách có hệ thống, thay vì chỉ dừng lại ở hoạt động quan hệ công chúng hoặc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR). Các tập đoàn cần hiểu rõ những khó khăn và nhu cầu thực tế của người dân địa phương, thay vì chỉ tập trung vào lợi ích kinh doanh của mình.

* Với một siêu đô thị phát triển nhanh như TP.HCM, thành phố nên ưu tiên hợp tác với những tổ chức quốc tế và đối tác công nghệ nào để giải quyết các vấn đề đô thị đặt ra cũng như các giải pháp để giải quyết?

- Tôi cho rằng thành phố nên hợp tác với các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và Liên hợp quốc. Các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc, gồm 17 mục tiêu hướng tới năm 2030, có ý nghĩa rất quan trọng.

Liên hợp quốc có mạng lưới đối tác quốc tế rộng lớn, trong đó có các tập đoàn như Microsoft và Google. Những đối tác này đang triển khai nhiều giải pháp, từ lập bản đồ đô thị, quản lý giao thông đến theo dõi chất lượng không khí.

TP.HCM là một thành phố lớn, nên việc quản lý có thể khó khăn hơn so với Singapore hay những đô thị có quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, quy mô lớn cũng tạo ra cơ hội để nhân rộng các giải pháp hiệu quả.

Để một công nghệ được triển khai nhanh chóng và mở rộng trên diện rộng, cần có niềm tin, tốc độ triển khai và khả năng nhân rộng. Nếu thiếu tốc độ và niềm tin, rất khó đạt được quy mô cần thiết.

Vì vậy, TP.HCM cần thu hút nhân tài, nhà đầu tư và xây dựng niềm tin giữa chính quyền thành phố, các công ty công nghệ và trường đại học. Đồng thời cần có chính sách, quy định và hành lang pháp lý phù hợp để tạo điều kiện triển khai các giải pháp nhanh chóng hơn.

Thành phố cũng không cần tự giải quyết mọi vấn đề. Các nước thành viên ASEAN đang thúc đẩy Hiệp định khung về kinh tế số ASEAN (DEFA). Tận dụng khuôn khổ hợp tác này có thể giúp hài hòa các tiêu chuẩn và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại xuyên biên giới.

Với dân số khoảng 100 triệu người, Việt Nam có thị trường lớn để phát triển và nhân rộng các giải pháp công nghệ. Tuy nhiên, thách thức là xác định vấn đề nào cần được ưu tiên giải quyết trước.

Chuyên gia WEF: Việt Nam nên khuyến khích tập đoàn lớn cùng phát triển sản phẩm - Ảnh 2.

Các chuyên gia cùng thảo luận về "Ngoại giao công nghệ cho các siêu đô thị: Cách các thành phố chuyển hóa quan hệ đối tác công nghệ thành động lực tăng trưởng" trong khuôn khổ AEF 2026 tại TP.HCM ngày 27-10-2026 - Ảnh: BÌNH AN

Đồng sáng tạo để duy trì năng lực cạnh tranh

* Bên cạnh việc thu hút công nghệ và đầu tư nước ngoài, TP.HCM cần làm gì để bảo đảm các giải pháp công nghệ đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân và mang lại lợi ích lâu dài cho toàn xã hội?

- Khi xây dựng chính sách và phát triển công nghệ, cần lắng nghe ý kiến từ các cộng đồng ở cấp cơ sở. Những người trực tiếp chăm sóc người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật và những người có thu nhập thấp thường hiểu rõ những khó khăn mà các nhóm này đang đối mặt.

Việc tham vấn những người làm việc trực tiếp với cộng đồng sẽ giúp xác định đúng nhu cầu thực tế. Vì vậy, cần tạo điều kiện để họ tham gia vào các cuộc thảo luận và quá trình ra quyết định.

Chẳng hạn, khi thành lập một hội đồng hoặc ban điều hành, cần cân nhắc thành phần tham gia đã đủ đa dạng hay chưa, có phản ánh được tiếng nói của người lao động, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và những nhóm có hoàn cảnh, nền tảng văn hóa, ngôn ngữ khác nhau hay không.

Theo tôi, sự đa dạng này không nên chỉ mang tính hình thức. Khi những người đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau cùng tham gia, họ có thể mang đến những góc nhìn và ý tưởng mới.

Sáng tạo và đổi mới cần bắt đầu từ việc lắng nghe những vấn đề thực tế của cộng đồng. Những người có trải nghiệm khác nhau có thể đề xuất các giải pháp mà chúng ta chưa từng nghĩ tới, thậm chí có thể ứng dụng trong những lĩnh vực khác.

Bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các giải pháp. Chúng ta khó có thể biết những giá trị mới nào sẽ xuất hiện nếu không sẵn sàng thử nghiệm và tiếp nhận những góc nhìn khác biệt.

* Từ góc nhìn của Việt Nam, ngoại giao công nghệ có thể giúp doanh nghiệp trong nước xây dựng quan hệ đối tác dài hạn với các nhà cung cấp công nghệ quốc tế, tiếp cận công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực để tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu như thế nào, thay vì chỉ tiếp nhận công nghệ do nước ngoài phát triển?

- Tôi cho rằng đồng sáng tạo là yếu tố quan trọng để duy trì năng lực cạnh tranh. Khi cùng phát triển sản phẩm với các đối tác tại địa phương, doanh nghiệp có thể tạo ra những giải pháp phù hợp hơn với thị trường sở tại.

Nếu các tập đoàn lớn chỉ bán công nghệ và doanh nghiệp trong nước mua về sử dụng, khả năng sáng tạo sẽ bị giới hạn. Thay vào đó, cần khuyến khích các tập đoàn cùng phát triển sản phẩm dành riêng cho thị trường Việt Nam, bởi Việt Nam có những đặc điểm riêng về văn hóa và ngôn ngữ, khác với Mỹ hay châu Âu.

Quá trình đồng sáng tạo có thể mở ra những ý tưởng mới và giúp doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội tham gia sở hữu tài sản trí tuệ liên quan.

Một số người cho rằng bảo hộ thị trường có thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, theo tôi, bảo hộ chỉ có thể mang lại lợi ích trong ngắn hạn. Về lâu dài, không thể xây dựng lợi thế cạnh tranh bằng cách loại trừ các đối tác khác.

Nếu bị gạt ra khỏi hệ sinh thái hợp tác, các đối tác có thể tự phát triển giải pháp của riêng họ và không còn cần đến chúng ta. Khi đó, chúng ta có nguy cơ mất đi cơ hội tham gia vào hệ sinh thái này.

Vì vậy, đồng sáng tạo giải pháp là điều rất quan trọng. Các bên không nhất thiết phải cùng phát triển công nghệ mà có thể cùng tìm cách giải quyết những vấn đề cụ thể. Nếu kết hợp được đổi mới sáng tạo, công nghệ và các giải pháp xã hội trong quá trình đó, hiệu quả có thể còn lớn hơn.

Từ ngày 26 đến 29-10, Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 - Sự hội tụ của các cực tăng trưởng mới toàn cầu (AEF 2026) được tổ chức tại TP.HCM với chủ đề "Tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới" (Collaboration in a New Era).

Chương trình do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chỉ đạo và dự kiến tham dự, UBND TP.HCM chủ trì, Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư TP.HCM (HCMC C4IR) thực hiện.

Đặc biệt, hai ngày diễn đàn chính 27 và 28-10 sẽ đồng thương hiệu với Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) - lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ AEF.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề