Chưa đến 200 doanh nghiệp FDI tại Việt Nam phải nộp thuế tối thiểu toàn cầu

Trong khoảng 45.000 dự án FDI tại Việt Nam, chỉ khoảng 1.500 dự án thuộc diện phải kê khai thuế tối thiểu toàn cầu, và chưa đến 200 doanh nghiệp thực tế phát sinh nghĩa vụ nộp thuế.
Chưa đến 200 doanh nghiệp FDI tại Việt Nam phải nộp thuế tối thiểu toàn cầu - Ảnh 1.

Chưa đến 200 doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ thuế tối thiểu toàn cầu - Ảnh minh họa một doanh nghiệp FDI ở thành phố Bắc Ninh: NGUYÊN BẢO

1.500 dự án FDI thuộc diện kê khai thuế tối thiểu toàn cầu

Thông tin trên được ông Đặng Ngọc Minh - Phó cục trưởng Cục Thuế - cho biết tại tọa đàm chuyên đề Chính sách thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) do Cục Thuế tổ chức ngày 28-9.

Theo ông Minh, trong khoảng 45.000 dự án của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, chỉ khoảng 1.500 dự án có doanh thu trên 750 triệu euro, thuộc diện có nghĩa vụ kê khai thuế tối thiểu toàn cầu. Đây chủ yếu là các tập đoàn lớn, tập đoàn đa quốc gia.

"Trong 1.500 dự án này, chỉ có chưa đến 200 doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ phải nộp", ông Minh nói.

Ông Minh cho biết đối với những doanh nghiệp trước đây được hưởng mức thuế suất ưu đãi 5%, 10% hoặc được giảm trừ, khi áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu, Việt Nam áp dụng mức thuế suất chung 15%.

Tổng số thuế Việt Nam thu được từ thuế tối thiểu toàn cầu trong năm 2025 khoảng 16.500 tỉ đồng. Đây là nguồn thu góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thu hồi một phần những ưu đãi thuế đã thực hiện trước đây.

Thu hút FDI không chỉ nhìn vào vốn

Phát biểu tại tọa đàm, ông Mai Xuân Thành - Cục trưởng Cục Thuế - cho biết sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp vào tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và chuyển giao công nghệ.

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút bao nhiêu vốn đầu tư mà quan trọng hơn là thu hút dòng vốn như thế nào, tạo ra giá trị gì và đóng góp ra sao cho sự phát triển lâu dài, bền vững của nền kinh tế.

Theo ông Thành, yêu cầu về chất lượng đầu tư thay đổi, đòi hỏi chính sách và phương thức quản lý nhà nước tiếp tục hoàn thiện. Trong đó, chính sách thuế, chính sách đầu tư và quản lý thuế giữ vai trò quan trọng.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) - cho biết Việt Nam đang đứng trước yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Việc tiếp tục thu hút nguồn vốn FDI vẫn cần thiết, nhưng mục tiêu không chỉ là thu hút thêm bao nhiêu vốn hay bao nhiêu dự án. 

Quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của dòng vốn, đồng thời tăng sự gắn kết giữa khu vực FDI với năng lực nội sinh và các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.

Bà Roux Eloïse, đại diện Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam, đánh giá Việt Nam là đối tác lâu năm của EU, với quan hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ.

Theo bà, Việt Nam có sức hấp dẫn nhờ nền kinh tế tăng trưởng, thị trường nội địa mở rộng, cơ sở hạ tầng, logistics, định hướng xuất khẩu và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đạt mức cao nhất trong 5 năm qua vào năm 2025 và những quý đầu năm 2026. Riêng đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU vào Việt Nam đạt khoảng 30,5 tỉ USD vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, tiềm năng đầu tư giữa hai bên còn lớn.

Ưu đãi doanh nghiệp FDI: sẽ chuyển từ "giảm thuế" sang hỗ trợ chi phí

Theo ông Minh, việc lựa chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài không còn quá phụ thuộc vào chính sách ưu đãi như trước.

Việt Nam có vị trí chiến lược trong chuỗi sản xuất toàn cầu, nền tảng về hạ tầng, quan hệ thương mại và lực lượng lao động, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất.

Về định hướng chính sách thời gian tới, ông Minh cho biết ưu đãi dựa trên thu nhập sẽ không còn phù hợp. Chính sách thu hút FDI sẽ chuyển theo hướng hỗ trợ về chi phí, như hỗ trợ công nghệ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực công nghiệp, phát triển công nghiệp và công nghệ cao.

Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ đầu tư hạ tầng công nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp xây dựng hệ sinh thái, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi liên kết thông qua đào tạo, hỗ trợ thành lập doanh nghiệp và phát triển hệ sinh thái.

Xu hướng tới đây là ưu đãi sẽ gắn với sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp, thể hiện qua kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực. Các ưu đãi này phải được công khai ngay từ đầu trong giấy phép cấp cho doanh nghiệp.

Cơ quan thuế sẽ thực hiện tiền giám sát việc thực hiện các cam kết trên thực tế.

Để thực hiện việc này, theo ông Minh, cần xây dựng nền tảng cơ sở dữ liệu dùng chung. Cơ quan thuế sẽ chia sẻ dữ liệu về doanh nghiệp và dân cư để phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các cơ quan Chính phủ.

Mục tiêu là doanh nghiệp chỉ cần kê khai thông tin và các cam kết, qua đó cơ quan thuế sẽ giám sát gián tiếp và thực hiện hậu kiểm dựa trên kết quả đánh giá.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề